Thân phận và cuộc đời

Công nghệ

Kinh tế

Thứ Sáu, 15 tháng 6, 2018






Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Mao Trạch Đông (1893 - 1976)



Mao Trạch Đông - Chủ tịch nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, người  đã sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều người cho rằng những chính sách để xây dựng và phát triển đất nước của ông là không phù hợp, thậm chí là sai lầm nhưng trong triệu triệu trái tim của người Trung Quốc, cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch  sử dân tộc, bởi những đóng góp của ông cho Đảng Cộng sản Trung Quốc và nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa là vô cùng to lớn.


Mao Trạch Đông sinh ngày 26.2.893 ở Thiền Sơn tỉnh Hồ Nam, thuộc miền Nam Trung Quốc trong một gia đình thuộc tầng lớp nông dân nghèo. Nhờ buôn bán thóc gạo, dần dần gia đình khấm khá lên và trở thành phú nông.
Cha ông là Mao Thuận Sinh, một người rất nghiêm khắc, gia trưởng và ham mê công việc. Ngay từ khi còn nhỏ, Mao Trạch Đông đã phải làm nhiều công việc vất vả nặng nhọc. Mẹ ông là Văn Kỳ Mỹ, sau khi lấy chồng gọi là Mao Văn Thị, một cô gái Hồ Nam chăm chỉ hiền lành, hết lòng thương yêu chồng con. Bà là người có ảnh hưởng rất sâu sắc đến cuộc đời của Mao Trạch Đông. Cái chết của bà sau này đã để lại trong lòng Mao Trạch Đông một nỗi đau thương không gì bù đắp nổi.
Cuộc nội chiến ở Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã làm gia đình ông tan tác. Năm 1930, Mao Trạch Hồng, chị gái ông bị bắn chết. Năm 1935, Mao Trạch  Đàm em trai ông cũng bị giết ở Phúc Kiến. Năm 1943, một người em trai khác  của ông là Mao Trạch Dân cũng bị giết dưới bàn tay của Tưởng Giới Thạch. Trải qua nhiều biến cố đau thương đã tạo cho Mao Trạch Đông một đức tính cứng rắn, quyết đoán và kiên nghị. Tính cách này đã giúp ông thành công trong  sự nghiệp vì nó phù hợp với con đường ông đã chọn, nhưng nó lại không mấy phù hợp với đời sống riêng tư.
Tuổi thơ và thời niên thiếu của Mao Trạch Đông trôi đi trong nỗi vất vả cực nhọc vì người bố phong kiến luôn muốn ông ở nhà để lo công việc đồng áng và tính toán sổ sách cho ông. So với các bạn đồng trang lứa, Mao Trạch Đông không được đến trường đều đặn, ông luôn phải nghỉ học để lo phụ giúp gia đình. Năm 13 tuổi, cha ông buộc ông phải nghỉ học để ở nhà làm việc. Nhưng đến năm 15 tuổi Mao Trạch Đông tiếp tục đi học bất chấp sự phản đối quyết liệt của người cha. Ông không muốn cuộc đời mình cũng quẩn quanh như cuộc đời của cha ông.
Không như nhiều người khác, nhân vật lịch sử mà Mao Trạch Đông rất  khâm phục lại là Tần Thuỷ Hoàng([1]).
Những năm 1913 - 1918, Mao Trạch Đông theo học trường Sư phạm I, tỉnh Hồ Nam dưới sự dẫn dắt của Dương Xương Tế, một giáo sư triết học của  trường. Sau này ông đã cưới con gái thầy mình làm vợ. Năm 1917, ông cùng một số sinh viên thành lập nhóm nghiên cứu Tân Dân học hội. Ông được bầu làm người đứng đầu của nhóm. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm I, năm 1918,  Mao Trạch Đông tham gia và nhóm nhiên cứu chủ nghĩa xã hội do Lý Tự Đại  sáng lập.
Chịu ảnh hưởng khá mạnh của thầy mình là Dương Xương Tế, Mao Trạch Đông sớm đi theo con đường hoạt động chính trị và đã gặt hái được rất nhiều những thành công: Ông sáng lập ra Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921, sau 28 năm xây dựng chiến đấu, Mao Trạch Đông đã tổ chức ra Quân giải phóng Trung Quốc và thành lập nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa vào năm 1949. Ông đã thành công lớn trong việc tập hợp được đông đảo lực lượng quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc để thống nhất đất nước Trung Hoa rộng lớn.
Năm 1934, những cuộc tấn công dồn dập và ác liệt của Quốc dân Đảng nhằm loại bỏ Đảng Cộng sản khiến Mao Trạch Đông phải lãnh đạo Đảng Cộng sản đưa quân đội của mình làm một cuộc Trường chinh vĩ đại vượt hơn 10.000km để đến một căn cứ mới. Năm 1937, Nhật đem quân xâm lược Trung Quốc. Trước tình hình khó khăn ấy, Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đã liên minh lại để tiến hành cuộc chiến tranh kháng Nhật cứu nước. Chiến tranh kết  thúc, Mao Trạch Đông được nhiều tầng lớp nhân dân ủng hộ nhiệt tình. Ông tiến hành cuộc chinh phạt Quốc dân Đảng, thống nhất giang sơn thành một mối.
Ngày 1.10.1949, Mao Trạch Đông tuyên bố thành lập nước Cộng hoà  nhân dân Trung Hoa và trở thành vị lãnh tụ đầu tiên của quốc gia rộng lớn này. Ông đã lãnh đạo nhân dân lật đổ giai cấp địa chủ và xây dựng các công xã nông  nghiệp.
Trên con đường chính trị đầy khó khăn thử thách, Mao Trạch Đông ngoài sự ủng hộ nhiệt tình của quần chúng nhân dân đã nhận được sự trợ giúp tận tuỵ của Chu Ân Lai, một người bạn đồng hành thông minh và trung thành. Chính Chu Ân Lai - khi thành lập nước được bầu làm thủ tướng và tại vị 26 năm - đã trở thành bức bình phong che chắn cho Mao Trạch Đông trong cuộc Đại Cách  mạng Văn hoá.
Về cuộc sống riêng tư, Mao Trạch Đông đã từng kết hôn tới bốn lần nhưng chưa một lần ông được hưởng hạnh phúc một cách trọn vẹn. Mạnh mẽ, quyết đoán trong công việc, chèo lái một đất nước rộng lớn với số dân lớn nhất ông làm được, nhưng để quản lý một gia đình, đó là một điều rất khó đối với Mao Trạch Đông. Không thành công ở những chính sách kinh tế năm 1957 - 1959, Mao Trạch Đông phải từ bỏ vai trò lãnh đạo nhà nước Trung Hoa. Đến  năm 1966, ông tiến hành cuộc Đại cách mạng vô sản và cuộc Đại cách mạng  văn hoá vô sản này đã gây ra những phản ứng tiêu cực trong một bộ phận nhân  dân. Tính thiếu thực tế, tả khuynh... của cuộc Cách mạng văn hoá cũng đi vào hồi cáo chung sau cái chết của ông và tháng 9. 1976.
Mao Trạch Đông đã vĩnh viễn ra đi, những cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn còn sống mãi trong lòng người dân Trung Hoa như một nhân vật anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc.

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2015

Trịnh Công Sơn - Đừng để hồn mình mòn đi vì....

"Đừng để hồn mình mòn đi vì những tổn thương tưởng có thật mà không thật"
-----Trịnh Công Sơn----



Trịnh Công Sơn
(28/2/1939 – 1/4/2001)


Là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của Tân nhạc Việt Nam. Trong sự nghiệp âm nhạc, ông đã sáng tác trên 600 tác phẩm, phần lớn là tình ca. Nhạc của Trịnh Công Sơn được rất nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ dù không chuyên.
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm không những mang đậm một phong cách riêng mà còn gửi gắm một triết lý. Ông từng lý giải cho cái sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư

Nguyễn Bá Thanh - Cái gì không thuộc về mình thì đừng có lấy

"Cái gì không thuộc về mình thì đừng có lấy, đói quá thì đi xin. Đã làm người thì phải có lòng tự trọng"


Nguyễn Bá Thanh (18/4/1953 – 13/2/2015)

 là một chính khách Việt Nam, nguyên là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Đà Nẵng, Ủy viên Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội Việt Nam. Ông cũng từng là phó trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng - cơ quan trực thuộc Bộ chính trị.

Ông được biết tới vì đã có những đóng góp lớn lao trong việc làm thay đổi diện mạo thành phố Đà Nẵng và cuộc sống của nhân dân nơi đây. Nhiều người cho rằng hiếm có một lãnh đạo nào có tâm, có tài và nhiều nhiệt huyết, hết lòng vì dân như ông.
Theo: Bách khoa tri thức

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Thomas Edison - Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết..

"Thiên tài một phần trăm là cảm hứng và chín mươi chín phần trăm là mồ hôi."
Genius is one percent inspiration and ninety-nine percent perspiration.

"Tất cả mọi thứ sẽ đến với người biết hối hả trong khi chờ đợi."
Everything comes to him who hustles while he waits.






Thomas Alva Edison (11/2/1847 – 18/10/1931)
là nhà phát minh và thương nhân người Mỹ. Ông đã phát triển nhiều thiết bị có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống trong thế kỷ 20 như máy quay đĩa, máy quay chuyển động và bóng đèn. Được đặt danh hiệu "Thầy phù thủy ở Menlo Park", ông là một trong những nhà phát minh đầu tiên ứng dụng các nguyên tắc sản xuất hàng loạt và lao động tập thể quy mô lớn vào quá trình sáng tạo, và vì thế, ông thường được coi là người đã tạo ra phòng nghiên cứu công nghiệp đầu tiên.
Edison là một nhà phát minh tài ba, với 1093 bằng sáng chế tại Mỹ, cũng như nhiều bằng sáng chế tại Anh, Pháp, Đức. Các sáng chế của ông về bóng đèn điện và các ứng dụng điện khác, các thiết bị thu âm và thu hình, có ảnh hưởng lớn tới cuộc sống, và là khởi điểm của những ngành công nghiệp mới trên khắp thế giới.
Trong cuộc đời, ông đã giành được rất nhiều giải thưởng cho những phát minh của mình, gồm Huân chương Matteucci Medal (1887) - giải thưởng Ý đặt theo tên Carlo Matteucci dành cho các nhà vật lý, Huân chương John Scott (1889) - huân chương dành cho những người với các phát minh làm cải thiện đáng kể 'sự thoải mái, sức khỏe và hạnh phúc của nhân loại', Huân chương Edward Longstreth (1899) của Viện Franklin, Huân chương John Fritz (1908) của Hiệp hội Cộng đồng Kỹ thuật Mỹ dành cho "những thành tựu khoa học công nghệ vượt trội", Huân chương Edward Longstreth (1915) của Viện Franklin vì những phát kiến đóng góp cho nền móng của nền công nghiệp cũng như cho lợi ích của nhân loại, Huân chương Phục vụ xuất sắc Hải quân của Hải quân Mỹ (1920), Huân chương Edison (1923) - do Hiệp hội Kỹ sư điện Mỹ lập ra theo tên ông và ông là người đầu tiên nhận được, Huân chương Vàng Quốc hội (1928).
Sau khi mất, năm 1983, Quốc hội Hoa Kỳ đã lập ngày 11/2, ngày sinh của Edison, thành Ngày của nhà Phát minh trên toàn quốc. Ông cũng được vinh danh với giải Grammy Kỹ thuật vào năm 2010.

Theo: Bách khoa tri thức


Les Brown - Cuộc sống có ý nghĩa khi bạn...

"Cuộc sống có ý nghĩa khi bạn có động lực, đặt mục tiêu và theo đuổi chúng không gì ngăn cản được."
Life takes on meaning when you become motivated, set goals and charge after them in an unstoppable manner.

Danh nhân - Les Brown



Les Brown - (17/2/1945)
Leslie Calvin "Les" Brown (17/2/1945) là nhà diễn thuyết, tác gia nổi tiếng người Mỹ. Ông từng là chính trị gia, thành viên Hạ viên Ohio.
Les Brown sinh ngày 17 tháng Hai năm 1945 tại một tòa nhà bỏ hoang tại thành phố Liberty, một khu vực thu nhập thấp của Miami, Florida, và được bà Mamie Brown nhận nuôi khi được sáu tuần tuổi. Lúc đó bà là một phụ nữ độc thân 38 tuổi, một người nội trợ và đầu bếp tại một quán ăn tự phục vụ, có học vấn thấp và không giàu có, nhưng đã dành cho Les Brown và người anh em sinh đôi, Wesley Brown tình yêu và sự chăm sóc, nuôi nấng.
Vào lớp năm, Les Brown bị coi là có trí tuệ chậm phát triển và phải quay lại học lớp bốn, rồi sau này không qua được lớp tám vì thiếu sự tập trung trong học tập và do giáo viên không nhận ra được tài năng thực sự của ông. Nhờ vào sự tin tưởng và ủng hộ của mẹ mình mà ông vượt qua được điều này. Khao khát học hỏi và mong muốn phát triển bản thân đã giúp ông vươn lên dù không được ăn học quá trung học. Sự quyết tâm và kiên trì để vượt qua nghèo khó, cùng với triết lý "làm bất cứ điều gì để thành công" của ông đã khiến ông trở thành một tác gia nổi tiếng về phát triển năng lực của con người và tìm kiếm thành công.
Les Brown đạt được giải thưởng Council of Peers Award of Excellence của Hiệp hội National Speakers vào năm 1987. Ông là một nhà diễn thuyết nổi tiếng trên toàn nước Mỹ vì những thông điệp đầy sức sống kêu gọi con người vượt qua nghèo khó và sống hết mình, hết tài năng của mình. Đó là thông điệp mà Les Brown học được từ chính cuộc đời mình và giúp đỡ mọi người bằng cách chia sẻ nó.

Hiện giờ ông sống ở Chicago và là một trong những giác viên dạy khóa học trực tuyến tại Success University, trường Đại học Thành công.

Một số danh ngôn nổi tiếng khác của ông:

"Hãy có trách nhiệm với cuộc đời mình. Hãy biết rằng chính bạn là người sẽ đưa bạn tới nơi bạn muốn đến chứ không phải ai khác."
Accept responsibility for your life. Know that it is you who will get you where you want to go, no one else.

"Có người thắng, có kẻ thua, và có những người vẫn chưa học được cách để chiến thắng."

There are winners, there are losers and there are people who have not yet learned how to win.

Theo: Bách khoa tri thức

Nguyễn Du (1766-1820)

Nguyễn Du sinh ra trong một gia đình quí tộc, tên tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên. Cha ông là tiến sĩ Nguyễn Nghiễm, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh, làm tể tướng thời Lê-Trịnh. Mẹ Nguyễn Du là bà Trần Thị Tần, người huyện Đông Ngàn, Trấn Kinh Bắc (nay thuộc Tiên Sơn, Bắc Ninh). Nguyễn Du được sinh ra ở phường Bích Câu - Thăng Long (Hà Nội).
Năm Nguyễn Du lên 10 tuổi thì cha mất và 12 tuổi mẹ mất. Nguyễn Du sống với anh cả là Nguyễn Khản cũng là quan đầu triều, rất giàu sang ở kinh đô Thăng Long. Trong suốt thời niên thiếu đến khi lập gia đình, Nguyễn Du sống nghèo khổ, phải ăn nhờ ở đậu nay nhà anh mai chỗ khác. Hơn nữa sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước có nhiều biến động, chính quyền Lê – Trịnh suy tàn, tiếp đó quân thanh xâm lược nước ta, rồi phong trao nông dân Tây Sơn như vũ bão quét sạch bè lũ bán nước và cướp nước, Nguyễn Du đã trải qua nhiều năm vất vả.
Năm 1783 Nguyễn Du thi Hương đỗ Tam Trường và giữ chức quan võ ở Thái Nguyên. Năm 1786, Nghĩa quân Tây Sơn tiến ra Bắc Hà, Nguyễn Khản (anh Nguyễn Du) bỏ Thăng Long về quê tổ chức chống lại, nhưng sau bị bệnh chết. Tiếp đó gia đình họ hàng Nguyễn Du phân hoá sâu sắc. Nhiều  người ủng hộ tập đoàn Lê Chiêu Thống, song cũng có người đi theo Tây Sơn. Ví như anh cùng mẹ và anh vợ của Nguyễn Du công khai hợp tác với nghĩa quân Tây Sơn và ra làm quan ở triều Quang Trung - Nguyễn Huệ.
Đối với Nguyễn Du, có lúc muốn chống lại, nhưng bất lực. Vì vậy, thời gian này ông về quê vợ ở Quỳnh Côi (Thái Bình) sống nhờ, sau đó về quê hương xứ Nghệ.
Năm 1802, nhà Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Ánh lên làm vua, ra chiếu trưng tập các cựu thần là Lê, Nguyễn Du cũng bị gọi và bị bắt buộc ra làm quan. Mùa thu năm ấy, ông làm tri huyện Phù Dung (Phù Tiên – Hưng Yên). Đến 1805, ông về Huế làm Đông Các đại học sĩ rỗi Cai bạ ở Quảng Bình. Năm 1813ông làm Chánh sứ sang Trung Quốc, khi về nước làm Thanh Tri bộ Lễ.
Tuy là quan chức trong triều đình, nhưng Nguyễn Du lại là một nhà thơ của thời đại, là người phát ngôn của những người bị chế độ phong kiến chà đạp. Ông đã để lại cho nhân dân đất nước nhiều văn phẩm thể hiện tâm huyết, tài năng của ông. Đó là: Thanh Hiên thi tập, Nam Trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục (chữ Hán); truyện Kiều và nhiều bài thơ khác (chữ Nôm). Thông qua ngòi bút của Nguyễn Du, ngôn ngữ Việt Nam được hoàn thiện, thật sự trong sáng phong phú. Trong đó truyện Kiều là một tác phẩm vĩ đại bất hủ.

Truyện Kiều không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là một bản tổng kết, một thông điệp của cuộc đời, để con người giao cảm với thế giới tâm linh, thế giới của những xúc cảm, huyền ảo mà rất đời thường ít có tác phẩm nào ngay khi ra đời đã được chào đón như truyện Kiều. Không chỉ chào đón, yêu thích, người đọc còn gửi gắm ở truyện Kiều một niềm tin, niềm tin vào tình yêu và cuộc sống, vào ngôn ngữ bất diệt của văn hoá dân tộc. Truyện Kiều là một bài ca về tình yêu, là một cuốn sách cuộc đời. Cho đến nay, không ai tính được có bao nhiêu người đã đọc và yêu truyện Kiều. Người ta không những đọc mà còn “bói Kiều, lẩy Kiều, trò Kiều, tranh Kiều, tuồng Kiều, phim Kiều…”. Chúng ta có nhiều sách nghiên cứu, từ điển tra cứu về truyện Kiều của Nguyễn Du.

Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Du đề cập và thương cảm nhiều nhất đến những phận đời đen bạc của xã hội đương thời. Trong những con người bị áp bức ấy có thân phận những người phụ nữ đau khổ, tủi hờn…GS Vũ Ngọc Khánh viết về ông: “Nguyễn Du đến với nhân dân lao động bao đời nay trong cả một bầu tâm sự cảm thông sâu sắc. Đó là một khát vọng của nhân dân cách mạng nên trong sóng gió cuộc đời, thấm nhuần bản chất của nhân dân, của dân tộc. Đó cũng là một con người nhân bản, đau với nỗi đau của nhân dân, nỗi đau bãi biển nương dâu, lên án chế độ bạo tàn, đòi cho con người có hạnh phúc, tình yêu, tự do và công lý. Ngòi bút của Nguyễn Du đã phanh phui được thế lực của đồng tiền, vạch trần những kẻ nhai thịt người mà không lòi lanh vuốt”([1])
Tháng 9 năm 1920 Nguyễn Du bị cảm rồi mất. Để ghi nhận tài năng của đại thi hào dân tộc, năm 1965 ông được Nhà nước chính thức làm lễ kỉ niệm. Ông cũng được thế giới ghi tên trong sách danh nhân của nhân loại.

Theo: Bách khoa tri thức

Khởi nghĩa Hai Bà Trưng (40 - 43) và sự hồi sinh của dân tộc Việt

Trưng Trắc và Trưng Nhị là con gái của Lạc tướng huyện Mê Linh (nay thuộc huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Đất Mê Linh xưa là đất bản bộ của vua Hùng. Vùng đất này kéo dài dọc hai bờ sông Hồng từ Việt Trì (Phú Thọ) đến Hà Nội và trải rộng ra vùng núi Ba Vì (Hà Tây), lan rộng sang vùng núi Tam Đảo (Vĩnh Phúc), tương đương với địa bàn các tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Tây hiện nay.

            Truyền thuyết kể lại rằng, cha mẹ Hai Bà Trưng làm nghề trồng dâu nuôi tằm, dệt vải. Xưa kia nuôi tằm, tổ kén tốt gọi là kén chắc, tổ kén kém hơn gọi là kén nhì; trứng ngài tốt gọi là trưng chắc, trứng ngài kém hơn gọi là trứng nhì. Do đó, tên hai bà vốn rất giản dị là Trứng Chắc Trứng Nhì, phiên theo tiếng Hán gọi là Trưng Trắc Trưng Nhị.

            Cha mất sớm, mẹ hai bà là Man Thiện (tương truyền là cháu ngoại vua Hùng) đảm đương việc nuôi dạy con cái. Bà hướng dẫn các con trồng dâu, nuôi tằm và luyện tập võ nghệ. Lớn lên trong cảnh loạn lạc, Hai Bà Trưng đã sớm trưởng thành, đặc biệt là Trưng Trắc, Bà tỏ ra là người “rất can đảm, dũng lược”. Trưng Trắc kết hôn với Thi Sách[1]cũng là con Lạc tướng ở huyện Chu Diên. Sách ''Đại Việt sử kí toàn thư” có xác nhận sự kiện này: “Thi sách cũng là con Lạc tướng, con hai nhà tướng kết hôn với nhau”[2]. Việc hai hai gia đình kết thông gia làm cho thanh thế của họ càng lên cao.
            Bấy giờ, nhà Đông Hán đang cai trị nước ta. Chúng chia nước ta thành ba quận: Giao Chỉ (Bắc Bộ Việt Nam), Cửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) và Nhật Nam (Quảng Bình trở vào đến Quảng Nam) để dễ bề cai trị và thực hiện âm mưu đồng hoá. Nhà Hán bắt nhân dân phải cống nộp đủ mọi thứ của ngon vật lạ, như: ngà voi, sừng tê, đồi mồi, ngọc châu, vàng bạc, và bóc lột tô thuế nặng nề làm cho đời sống của nhân dân ta vô cùng cực khổ.
            Năm 34, Tô Định được cử sang làm Thái thú quận Giao Chỉ. Hắn tham lam, tàn ác, thường xuyên giết hại vô cớ nhiều dân thường, làm cho đời sống nhân dân ta ngày càng cùng cực.
            Trước cảnh nước mất, nhà tan lại được chứng kiến sự tàn ác của Thái thú Tô Định, Thi Sách và Trưng Trắc hiệp mưu tính kế nổi dạy chống lại nhà Đông Hán. Việc chưa thành thì bị bại lộ, Tô Định đã giết chết Thi Sách[3]trước khi cuộc khởi nghĩa nổ ra, hòng làm nhụt ý chí của Trưng Trắc. Nhưng hành động đó của Tô Định chỉ làm thổi bùng thêm ngọn lửa căm thù giặc trong lòng Trưng Trắc. Bà cùng với em gái của mình Trưng Nhị đứng lên kêu gọi nhân dân khởi nghĩa, chống nhà Đông Hán.
            Mục đích hay nguyên nhân chính của cuộc khởi nghĩa này đã được ghi lại rất rõ trong “Thiên Nam ngữ lục”, (thế kỉ XVIII), mà sử vẫn thường gọi là ''Lời thề Trưng Trắc'':
Một xin rửa sạch nước thù
Hai xin lấy lại nghiệp xưa họ Hùng
Ba kẻo oan ức lòng chồng
Bốn xin vẻ vẹn sở công lênh này
            Khi ra trận, dù còn đang mang tang chồng, Bà vẫn ăn vận rất đẹp, tướng sĩ thấy vậy hôi, Bà khẳng khái đáp lại: “Việc binh quyền, nếu giữ lễ làm dung nhan xấu xí, thì tự làm giảm nhuệ khí, nên ta mặc đẹp để cho thế quân hùng tráng; vả lại lũ kia thấy thế, tâm động, nhụt bớt chí khí tranh đấu, thì ta dễ có phần thắng”[4]. Câu trả lời đã khẳng định thêm bản lĩnh kiên cường quyết tâm tiêu diệt giặc của Trưng Trắc, đồng thời, nó cũng thể hiện lòng yêu nước sâu sắc, đặt lợi ích nhà lên trên hết của Bà Trưng.
            Tháng 3 năm 40, Hai Bà Trưng phát động cuộc khởi nghĩa ở khu vực cửa sông Hát (nay thuộc xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, tỉnh Hà Tây). Cửa sông Hát là chỗ gặp nhau của hai con sông lớn (sông Hồng và sông Đáy. Đây là 11 đầu mối giao thông thuỷ quan trọng nhất nước ta thời bấy giờ. Hơn nữa, sông Hát lại có vị trí rất thuận lợi để xây dựng căn cứ khởi nghĩa:
“Hát Môn có thể dụng binh.
Sông sâu làm cứ, rừng xanh làm nhà”.
(Thiên Nam ngữ lục)
            Hai Bà Trưng đã khai thác triệt để thuận lợi của thiên nhiên để xây dựng căn cứ khởi nghĩa, chuẩn bị lực lượng và phát động khởi nghĩa.
            Cuộc khởi nghĩa đã nhanh chóng thu hút được đông đảo nhân dân tham gia. Sách Hậu Hán thư còn chép lại: “Những người Man, người Lý (dân tộc phương Nam – TG chú) ở bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều nổi dậy hưởng ứng”[5]. Rất nhiều phụ nữ đã tham gia vào nhiều cuộc khởi nghĩa, trở thành những tướng soái của Hai Bà, như: Nữ tướng Lê Chân (Hải Phòng), Vũ Thục Nương (Thái Bình), Thiều Hoa, Diệu Tiên, Man Thiện, Bát Nàn, Đào Kỳ… Hai Bà còn liên lạc và phối hợp với các cuộc đấu tranh vũ trang ở các địa phương khác đang hoạt động độc lập. Nhờ vậy, lực lượng nghĩa quân lớn mạnh nhanh chóng.
            Từ cửa sông Hát, nghĩa quân theo dọc sông Hồng đánh chiếm Đô úy trị (thuộc Hạ lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc), rồi đánh chiếm lại thành Cổ Loa (xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội). Từ Cổ Loa, nghĩa quân mở cuộc tấn công trực tiếp vào thành Luy lâu (nay thuộc xã Lũng Khê, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - sào huyệt của chính quyền đô hộ. ''Bà Trắc rất hùng dũng, đi đến đâu như gió lướt đến đấy[6]. Trước sức tấn công mạnh mẽ của nghĩa quân, chính quyền địch tan rã nhanh chóng. Thái thú Tô Định phải bỏ chạy khỏi thành, bỏ cả ấn tín, cắt tóc, cạo râu mới trốn về được Nam Hải.
            Sau khi chiếm được thành Luy Lâu, Hai Bà chia quân đi truy quét bọn quan quân nhà Hán ở các huyện thành. Chỉ sau một thời gian ngắn, nghĩa quân đã làm chủ được 65 huyện thành trong cả nước. Nền độc lập dân tộc được khôi phục sau hơn 150 năm bị nô lệ.
            Sách “Đại Nam quốc sử diễn ca” của Lê Ngô Cát và Phạm Đình Toát đã diễn tả lại sự kiện này một cách sinh động:
“Bà Trưng quê ở Châu Phong,
Giận người tham bạo, thù chồng chẳng quên.
Chị em nặng một lời nguyền,
Phất cờ nương tử thay quyền tướng quân.
Ngàn Tây nổi áng phong trần,
Ầm ầm binh mã xuống gần Long Biên
Hồng quần nhẹ bước chinh yên,
Đuổi ngay Tô Định dẹp yên biên thành.
Đô kì đóng cõi Mê Linh,
Lĩnh Nam riêng một triều đình nước ta…”


            Sau thắng lợi, nhân dân suy tôn Trưng Trắc lên làm vua. Bà lên ngôi, đóng đô ở Mê Linh (nay thuộc khu vực Hạ Lôi, huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc). Trưng Vương đã xá thuế hai năm liền cho nhân dân hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân. Đồng thời, Bà cũng ban thưởng và phong chức tước cho những người có công trong cuộc khởi nghĩa đất nước tạm yên ổn.
            Thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng và công cuộc xây dựng nền độc lập tự chủ của đất nước ta trong một thời gian đã chứng tỏ sự trỗi dậy ý thức tự chủ của dân tộc. Nó phủ định hiên ngang cái tư tưởng bành trướng bá quyền và chủ nghĩa Đại Hán của phương Bắc.
            Có thể nói, đây là cuộc nổi dậy đầu tiên có qui mô lớn kể từ đầu thời Bắc thuộc đến thời điểm này. Cuộc khỏi nghĩa vừa mang tích chất quy tụ, vừa mang tính chất toả rộng. Một mặt, nó quy tụ về cửa sông Hát, về khu vực quận Giao Chỉ theo sự chỉ đạo thống nhất của Hai Bà Trưng. Mặt khác, nó cũng toả rộng ra khắp các vùng trong cả nước và lôi kéo được cả các bộ tộc Việt ở miền Nam Trung Quốc tham gia. Cuộc khởi nghĩa mang tính chất nhân dân sâu sắc, thể hiện tài trí tuyệt vời của Hai Bà Trưng.
            Nhà sử học Lê Văn Hưu đời Trần có nhận xét: “Trưng Trắc và Trưng Nhị là đàn bà vậy mà hô một tiếng, các quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cùng 65 thành ở Lĩnh Ngoại đều nhất tề hưởng ứng, việc dựng nước xưng vương dễ như trở bàn tay, xem thế cũng đủ biết hình thế nước Việt ta có thể dựng nghiệp bá vương được”[7].
            Sau này, tác giả Ngô Sỹ Liên lại một lần nữa khẳng định khí phách của Hai Bà Trưng: “Họ Trưng giận Thái Thú nhà Hán bạo ngược, liền vung tay hô một tiếng mà khiến cho quốc thống của nước nhà có cơ hồ được khôi phục, khí khái anh hùng đâu phải chỉ khi sống thì dựng nước xưng vương, mà còn cả ở khi chết còn có thể ngăn chặn tai họa. Phàm gặp những tai ương hạn lụt, cầu đảo không việc gì là không linh ứng. Cả đến Trưng Nhị cũng vậy. Ấy là vì đàn bà mà có đức hạnh của kẻ sĩ, cho nên, khí hùng dũng ở trong khoảng trời đất chẳng vì thân đã chết mà kém đi”[8].
            Về phía nhà Hán, nghe tin thái thú Tô Định để mất Giao Chỉ, vua Hán đã cử ngay Mã Viện, một viên tướng khét tiếng là ác bá sang đàn áp cuộc khởi nghĩa, hòng chiếm lại Giao Chỉ. Lúc này, Mã Viện đã 58 tuổi, là một lão tướng có nhiều chiến công và kinh nghiệm đàn áp phong trào đấu tranh vũ trang của các dân tộc Tạng - Miến và nông dân ở An Huy (Trung Quốc). Cùng với Mã Viện còn có Phiêu Kỵ tướng quân Đoàn Chí được phong làm Lâu Thuyền tướng quân chỉ huy đạo binh thuyền sang Giao Chỉ, Lưu Long vốn làm thái thú Nam Quận (Hồ Bắc), được phong làm Trung Lam tướng quân tước hầu làm phó tướng cho Mã Viện, Bình Lạc Hầu Hàn Vũ.
            Mùa xuân năm 42, Mã Viện dẫn 2 vạn binh và 2.000 thuyền xe, chia làm hai đạo thuỷ, bộ tiến đánh nước ta. Đạo quân bộ do Mã Viện trực tiếp chỉ huy vượt qua các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông đến Hợp Phố tiến vào Âu Lạc. Đạo thuỷ quân do Đoàn Chí chỉ huy theo đường biên đến Hợp Phố để hội quân với đạo quân bộ của Mã Viện đã cùng tiến vào Âu Lạc. Đến Hợp Phố, Đoàn Chí chết. Mã Viện thống suất cả 2 đạo thuỷ, bộ, kéo vào Âu Lạc. Từ vùng ven biển nước ta, hai đạo quân thủy bộ ngược sông Bạch Đằng tới Lục Đầu Giang tiến sâu vào Giao Chỉ, đến thẳng Lãng Bạc (Tiên Du, Hà Bắc). Mùa hạ năm 43, quân giặc ráo riết chuẩn bị tiến công quân đội của Hai Bà.
            Sau một thời gian chờ đợi, chưa thấy Mã Viện tiến quân, Bà Trưng chủ động cử Thánh Thiên đưa quân lên Hợp Phố giữ mạn Bắc. Hai Bà cùng Lê Chân đưa quân lên trấn giữ phía Nam. Thế giặc rất lớn, đạo quân ở phía Bắc đã phải rút lui. Mã Viện thúc quân xuống phía Nam, gặp quân Hai Bà ở Lãng Bạc (nay là huyện Tiên Sơn, tỉnh Bắc Ninh). Tại đây đã diễn ra các trận đánh quyết liệt khiến cho quân Mã Viện lâm vào tình trạng thiếu lương thực tinh thần rệu rã. Nhiều lúc, Mã Viện phải tính đến chuyện rút quân về nước. Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, Mã Viện nhanh chóng lấy lại được ưu thế. Quân Hai Bà Trưng ngày càng yếu đi. Hai Bà buộc phải rút quân từ Lãng Bạc về Cổ Loa, rồi về Hạ Lôi. Mã Viễn tiếp tục đưa quân tiến đánh Hạ Lôi, giết hại hàng vạn người không kể già, trẻ, lớn, bé.
            Sau một năm cầm cự, trước sức tấn công mạnh mẽ của Mã Viện, Hai Bà Trưng phải lui về Cấm Khê (nay thuộc Thanh Thùy, Thanh Oai, Hà Tây). Tại đây, nghĩa quân lấy sông Đáy làm hào ngoài, lấy núi Ba Vì hiểm yếu làm chỗ dựa, lại có khu vực Chửu Chân (Thanh, Nghệ, Tĩnh) làm hậu cứ phía sau. Hai Bà Trưng hi vọng căn cứ Cấm Khê sẽ là cơ sở vững chắc để nghĩa quân xây dựng lực lượng đồng thời là bàn đạp để tổ chức phản công khi có thời cơ.
            Nhưng, một lần nữa, trước sức tấn cống mạnh mẽ của Mã Viện, căn cứ Cấm Khê cũng bị phá vỡ. Hai Bà Trưng hi sinh anh dũng. Cuộc khởi nghĩa đến đây thất bại[9].
            Sau khi Hai Bà Trưng chết, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ. Trong đền, những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt đối không có sơn đỏ. Nhân dân địa phương khi vào thờ cũng không ai dám mặc áo đỏ. Tương truyền rằng Hai Bà Trưng đã chết vì binh đao nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu.
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, đất nước ta lại rơi vào ách đô hộ của nhà Hán.
            Hai Bà Trưng đứng dậy khởi nghĩa tuy chỉ giành lại độc lập cho đất nước trong một thời gian ngắn ngủi 3 năm (40 - 43) nhưng đó chính là bản anh hùng ca bất diệt cho tinh thần yêu nước, yêu độc lập của dân tộc Việt Nam đầu thời Bắc thuộc. Nhân dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về hai vị nữ anh hùng của dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị. Tác giả Ngô Thời Sỹ trong “Việt sử tiêu án” đã ca ngợi: “Không gì khó thu phục được là nhân tâm, không gì khó nắm giữa được là quốc thế, lại càng khó nữa là một đàn bà mà tập hợp được cả nhân dân trai tráng làm đồng chí… Trưng Vương là đàn bà góa, búi tóc đứng lên, những con trai trong nước đều cúi đầu chịu Bà chỉ huy, các quan to ở năm mươi thành cũng đều nín hơi, không dám kháng cự… Tiếng tăm hùng dũng của Bà chấn động cả Trung Hoa, cơ nghiệp mở mang của Bà dọc ngang trong trời đất, thật là anh hùng”[10].
            Vua Tự Đức (trị vì 1847 - 1883) khi đọc đoạn sử về Hai Bà Trưng đã ngự phê: Hai bà Trưng thuộc phái quần thoa, thế mà hăng hái quyết tâm khởi nghĩa, làm chấn động cả triều đình Hán. Dẫu rằng thế lực cô đơn, không gặp thời thế, nhưng cũng đủ làm phấn khởi lòng người, lưu danh sử sách. Kìa những bọn nam tử râu mày mà chịu khép nép làm tôi tớ người khác, chẳng cũng mặt dày thẹn chết lắm dư!”[11]         
            Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng là một biện tượng hết sức độc đáo trong lịch sử dân tộc. Trong điều kiện khó khăn của một đất nước nông nghiệp, hai thiếu nữ vùng đồng bằng Bắc Bộ đã đứng lên lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa giành độc lập, mở đầu cho lịch sử dân tộc đi lên. Các sử gia phong kiến sau này cũng ví công lao ấy của Bà như những người phụ nữ anh hùng vĩ đại của Trung Quốc: “Trong sách Bắc sử về đời Hán, Đường, cũng có vua đàn bà, như họ Lã, họ Vũ, nhưng đều là nhờ thế đã làm mẫu hậu rồi, mà nắm lấy quyền nhân chủ, thì dễ dàng lung lạc được trong nước, múa may với đàn trẻ. Đến như Bà Trưng là một đàn bà bình thường mà khởi lên được thì khó lắm…. Ông vua bị mất nước, hoặc là bị bắt, hoặc là đầu hàng; con gái ở cảnh nhà tan, hoặc phải bỏ đi, hoặc bị tủi nhục. Bà chị mất nước, bà em cũng tuẫn tiết theo chị, không chịu đầu hàng cũng không chịu để bắt, người chồng ở dưới đất được nhắm mắt, kẻ gian tà trông thấy thế phải cúi đầu. Vua tôi Văn Thúc (tướng Hán) không làm gì nổi. Chết rồi mà tiếng thơm vẫn còn… từ Nữ Oa có việc động trời đến giờ, chỉ có hai chị em Bà Trưng nữa thôi đấy”[12].
            Hai Bà Trưng chính là những người đầu tiên viết nên trang sử vẻ vang chống Bắc thuộc của dân tộc, đã đem đến sự hồi sinh cho tinh thần đấu tranh của dân tộc Việt.

Theo: Bách khoa tri thức

HỒ CHÍ MINH (1890 -1969)

Hồi trẻ có tên là Nguyễn Sinh Cung, Nguyễn Tất Thành. Khi hoạt động ở nước ngoài lấy tên là Nguyễn Ái Quốc, rồi Hồ Chí Minh. Người sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 trong một gia đình trí thức nghèo, gốc nông dân. Thân phụ của Người là cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và từng ra làm việc cho triều Nguyễn, nhưng chỉ sau một thời gian ngắn thì bị cách chức vì có tinh thần yêu nước thương dân nên ông thường có thái độ chống đối bọn quan trên và bọn thực dân Pháp. Thân mẫu của Người, cụ bà Hoàng Thị Loan là con gái một nhà Nho làm nghề dạy học nên cũng được học ít nhiều; bà tính tình hiền hậu đảm đang, quen việc đồng áng, dệt vải, hết lòng săn sóc chồng, dạy dỗ các con. Chị của Người là Nguyễn Thị Thanh và anh của Người là Nguyễn Sinh Khiêm đều tham gia phong trào chống thực dân Pháp.

Quê hương của Người (làng Kim Liên, quê nội liền kề với làng Hoàng Trù quê ngoại, đều thuộc huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), trong lịch sử dựng nước của dân tộc đây là một địa phương giàu truyền thống đấu tranh gian khổ, chống các điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hết hạn hán với gió Tây gào rú đến bão táp, lũ lụt trắng đồng. Quê hương Nghệ An của Người (nằm trong vùng Nghệ Tĩnh nói chung) cũng là một vùng đất có truyền thống đấu tranh anh dũng chống ngoại xâm xuyên qua chiều dài lịch sử giữ nước của dân tộc. Thừa hưởng những ảnh hưởng tốt đẹp của môi trường gia đình và quê hương, ngay từ lúc còn nhỏ. Người đã sớm bộc lộ lòng yêu nước, thương đồng bào.
Người rất khâm phục cuộc khởi nghĩa Cần Vương do Phan Đình Phùng lãnh đạo (1885-1896); phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1904-1908); cuộc vận động cải cách do Phan Châu Trinh khởi xướng (1905-1908); cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế (Hà Bắc) do Hoàng Hoa Thám đứng đầu (1885-1913). Nhưng vượt qua những hạn chế của các nhà yêu nước đi trước, với ý chí mãnh liệt và quyết tâm sắt đá, năm 1911, Người quyết định vượt biển sang phương Tây - quê hương của các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, nơi có nền khoa học và kỹ thuật phát triển, để thực hiện mục đích ham muốn tột bậc của đời mình là giành độc lập cho dân tộc, tự do cho đồng bào.
Vốn có tinh thần yêu nước thương dân nồng nàn, gắn bó sâu sắc với những truyền thống văn hóa tốt đẹp của quê hương, gia đình, dân tộc; lại có một vốn văn hoá rất cơ bản của phương Đông và phương Tây, thu nhận được qua sự giáo dục gia đình và nhà trường, anh thanh niên Nguyễn Tất Thành trước khi xuất dương tìm đường cứu nước đã có thời gian học tại các trường học do chính quyền thực dân Pháp mở tại Vinh, Huế nên có điều kiện chủ động và nhanh chóng hòa nhập vào xã hội phương Tây tìm hiểu thấu đáo và thông cảm sâu sắc với cuộc sống các dân tộc bị áp bức từ châu Âu sang châu Á, từ châu Phi đến châu Mỹ. Cuộc khảo sát dài ngày và phong phú đã giúp cho nhận thức của Người về kẻ thù, về tình nhân loại kết hợp với hữu ái giai cấp, về sức mạnh đoàn kết chiến đấu, v.v… vượt qua phạm vi Quốc gia để vươn tới tầm cao thế giới. Đó là nền tảng để Người (từ năm 1919 có tên là Nguyễn Ái Quốc) nhanh chóng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin, chân lý của thời đại.
Hoạt động đầu tiên có tiếng vang lớn của Người trên đất Pháp là gửi tới Hội nghị Versailles (Vecxay) của các nước đế quốc mới đánh bại Đức trong chiến tranh thế giới I (1914-1918) bản Yêu sách của nhân dân Việt Nam đòi Chính phủ Pháp phải thừa nhận các quyền tự do dân chủ và quyền bình đẳng của dân tộc Việt Nam (ngày 18 tháng 6 năm 1919). Yêu cầu chính đáng trên không được giải quyết làm cho Người thêm nhận rõ: ''Chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc, cả hai cuộc giải phóng này chỉ có thể là sự nghiệp của chủ nghĩa cộng sản và cách mạng thế giới”.
Chính vào lúc đó, khi phong trào cách mạng của nhân dân Pháp đang dâng cao dưới ảnh hưởng tốt đẹp của Cách mạng tháng Mười Nga (1917) và thông qua những đại biểu của những người cùng khổ nhất của nước Pháp, Người đã bắt gặp chân lý cứu nước là chủ nghĩa Mác-Lênin. Luận cương của Lênin về vấn đề thuộc địa với những vấn đề đặc biệt quan trọng về con đường giải phóng các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc; về quyền bình đẳng tự do thật sự giữa các dân tộc; về tình đoàn kết chiến đấu giữa giai cấp vô sản và nhân dân lao động các nước v.v... đã làm cho Người vô cùng phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng (1920). Từ đó, Người tin theo Lênin và tán thành Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản). Từ một người yêu nước mãnh liệt, Người đã đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, trở thành người cộng sản đầu tiên ở Việt Nam, và là một trong số những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp (1920).
Từ năm 1921 đến 1930, với những hoạt động phong phú và sáng tạo ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc v.v... vừa ra sức học tập nâng cao trình độ lý luận cách mạng vừa tham gia các hoạt động của Đảng Cộng sản Pháp và của Quốc tế Cộng sản; viết sách, báo, mở lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam một cách hệ thống...  Người đã xuất hiện trên vũ đài chính trị thế giới với tư cách một chiến sĩ cách mạng Quốc tế và là người sáng lập ra chính đảng kiểu mới ở Việt Nam: Đảng Cộng sản Việt Nam. Đây là thời kỳ hình thành về cơ bản đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-LÊnin vào những điều kiện cụ thể của Việt Nam, kết hợp đúng đắn sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại; Người khẳng định cách mạng Việt Nam từ đây coi chủ nghĩa Mác-Lênin là cẩm nang thần kỳ, là kim chỉ nam định hướng, là Mặt trời soi sáng con đường dân tộc Việt Nam đi tới thắng lợi, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Thời kỳ này, Người đã tham gia sáng lập Hội liên hiệp thuộc địa (1921), trực tiếp thành lập Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội (1925); ra báo Người cùng khổ (Le Paria, 1922), báo Thanh niên (1925); viết các tác phẩm Con rồng tre (1922); Bản án chế độ thực dân Pháp (1925); Đường cách mệnh (1927).
Từ sau khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời (3 - 2 - 1930), trong những năm tiếp theo của thập kỷ 30 đến những năm của thập kỷ 40, mặc dù gặp nhiều khó khăn trong hoạt động Cách mạng, có thời gian bị bắt và bị đầy trong nhà lao đế quốc Anh ở Hồng Kông (1931 - 1932), Người vẫn theo dõi sát sao phong trào cách mạng trong nước, kịp thời đóng góp với Trung ương Đảng ở trong nước nhiều ý kiến cụ thể để chỉ đạo thực hiện tốt đường lối của Đảng ngày 8 tháng Hai 1941, sau 30 năm hoạt động ở nước ngoài, Người trở về Tổ quốc. Chủ trì Hội nghị Trung ương lần thứ VIII của Trung ương Đảng điều chỉnh chiến lược cách mạng, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc là trên hết, tạm thời gác lại nhiệm vụ cách mạng ruộng đất; thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi là Việt Nam độc lập đồng minh (gọi tắt là Việt Minh) vào ngày 19 tháng 5 năm 1941. Bằng tầm cao trí tuệ, với hoạt động đổi mới và sáng tạo Người đã vận dụng thành công học thuyết Mác-Lênin về Vấn đề dân tộc và thuộc địa vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam trong thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, mở đầu bằng Cách mạng tháng 10 Nga rung chuyển địa cầu (1917) đưa tới thắng lợi của Cách mạng tháng 8 (1945) có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc Việt Nam, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Người khẳng định: “Đó là thắng lợi to lớn của nhân dân Việt Nam mà cũng là thắng lợi đầu tiên của chủ nghĩa Mác-Lênin ở một nước thuộc địa.
Trong thời gian chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức để tiến tới Cách mạng tháng Tám, Người đã lược dịch cuốn Lịch sử Đảng cộng sản Bolshevik Liên Xô; biên soạn một số tài liệu như Cách đánh du kích, cách huấn luyện cán bộ quân sự, ra báo Việt Nam đọc lập (Tên gọi tắt là Việt Lập). Người cũng đã chỉ thị tổ chức đội tự vệ vũ trang ở Cao Bằng.
Tháng 8 - 1942, với tên gọi là Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc để liên lạc với các lực lượng cách mạng của người Việt Nam bên đó và lực lượng của Đồng minh vừa qua biên giới, Người đã bị chính quyền địa phương của Tưởng Giới Thạch vô cớ bắt giam hơn một năm, giải tới giải lui qua gần 30 nhà lao của 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây. Trong hoàn cảnh đó, Người đã viết tập thơ chữ Hán Ngục trung nhật ký (Nhật ký trong tù), một tác phẩm lịch sử và văn học vô giá, khẳng định tinh thần bất khuất lạc quan cách mạng và ý chí cách mạng tiến công của một nhà yêu nước vĩ đại, của một người cộng sản vĩ đại.
Thất bại trong âm mưu sát hại người chiến sĩ cách mạng kiên cường, chính quyền Tưởng phải trả lại tự do cho Người (tháng Chín 1943). Chưa có điều kiện về nước Người đã tranh thủ thời gian tiếp xúc với các tổ chức chống Nhật, chống Pháp của người Việt Nam ở Trung Quốc, đồng thời chắp lại liên lạc với Trung ương Đảng ở trong nước. Tháng 7 năm 1944, Người về đến Pắc Pó (Cao Bằng) sau đó về Tân Trào (Tuyên Quang) trực tiếp lãnh đạo cách mạng đưa tới thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945.
Nhưng sau ngày Tuyên ngôn Độc lập (2-9-1945) tình hình nước nhà như ngàn cân treo sợi tóc, vì giặc đói giặc dốt, giặc ngoại xâm. Theo lời kêu gọi của Người, toàn thể dân tộc Việt Nam: “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu trở lại đời nô lệ” đã vừa kháng chiến, vừa kiến quốc. Với tinh thần Dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết. Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết; Thành công, thành công đại thành công. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng do Hồ chí Minh đứng đầu, nhân dân Việt Nam đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ với chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội địa cầu (1954). Việt Nam - Hồ Chí Minh - Điện Biên Phủ tượng trưng cho lòng dũng cảm, quyết tâm không gì lay chuyển nổi trong cuộc đấu tranh tự giải phóng giành độc lập tự do của các dân tộc thuộc địa. Sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành được thắng lợi, giải phóng miền Bắc, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân hai miền Nam, Bắc tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước.
Hồ Chí Minh là linh hồn hai cuộc kháng chiến cứu nước của toàn dân tộc, Người đã chủ trương tiến hành chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh chính nghĩa của thời đại và truyền thống bất khuất của dân tộc Việt Nam nhằm tạo lên sức mạnh tổng hợp của toàn dân đánh thắng bọn xâm lược. Đó chính là quy luật của chiến tranh chính nghĩa, chiến tranh nhân dân giải phóng dân tộc.
Đặc trưng tư tưởng Hồ Chí Minh là kết hợp nhuần nhuyễn triết học phương Đông với triết học phương Tây, nắm vững nền văn hóa dân tộc và tiếp thu một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của nước ta.
Hồ Chí Minh trở thành một biểu tượng và một hiện thực của sự nghiệp giải phóng dân tộc và giải thể chế độ thực dân trên phạm vi toàn thế giới; đồng thời cũng là biểu tượng và hiện thực cho những lý tưởng - khát vọng: độc lập cho mỗi dân tộc; tự do cho mỗi người; hạnh phúc cho nhân dân mỗi nước. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nhân dân hai miền Nam - Bắc tiếp tục cuộc đấu tranh để hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện thống nhất nước nhà. Sớm phát hiện đúng đặc điểm to nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa[1]; Người đã lãnh đạo khôi phục kinh tế, phát triển văn hóa, cải tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước vững chắc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp. Hồ Chí Minh là người đầu tiên vạch ra con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và phác thảo mô hình xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Theo Người, Chủ nghĩa xã hội trước hết nhằm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn, việc làm, được ấm no và sống một cuộc đời hạnh phúc[2]. Nêu cao tư tưởng đạo đức; trung với nước, hiếu với dân; Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; đặt lợi ích của nhân dân, của Tổ quốc lên trên hết, Người đã trở thành một mẫu mực đạo đức không riêng cho nhân dân Việt Nam, mà cho cả nhân loại yêu chuộng hòa bình, tiến bộ. Nhà sử học Mỹ J.Stenson đánh giá: "Thế giới đang đứng trước thảm họa tha hóa về vật chất, con người đang bị đẩy vào cuộc sống tiện nghi tối đa xa dần cuộc sống thiên nhiên, xa cuộc sống giữa người với người, không cần sống có đạo đức thì Người không tha hóa về vật chất, không mang tiếng về đời tư...Một số đông người đã tha hóa chạy theo cuộc sống hưởng thụ vật chất, bất chấp cả nhân phẩm đạo đức coi sự hưởng thụ là mục đích của cuộc sống, nhân loại lại tìm về tấm gương sáng ngời nhân cách của Hồ Chí Minh, một tấm gương cho mọi thế hệ tiếp sau[3].
Hồ Chí Minh hết sức quan tâm đào luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Chiến lược trồng người cùng với việc chăm lo cho một Đảng cầm quyền, xây dựng Nhà nước vững mạnh của dân, do dân, vì dân thể hiện khát vọng dân giàu nước mạnh xã hội văn minh của Người.
Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; tiếc rằng Người không còn sống đến ngày thắng lợi, nhưng xét về mặt lịch sử, Người là kiến trúc sư của thắng lợi đó Người dành nhiều công sức vun đắp phát triển tình hữu nghị, đoàn kết nhân loại tiến bộ nhằm biến những khát vọng của các dân tộc được làm chủ vận mệnh mình trở thành hiện thực, đồng thời khẳng định được bản sắc dân tộc của mình trong sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc. Hồ Chí Minh là một vĩ nhân đã tác động và thúc đẩy lịch sử dân tộc Việt Nam và lịch sử thế giới tiến lên phía trước trong quá trình phát triển của nhân loại. Người là vị anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam và là một danh nhân văn hóa[4]. Cống hiến to lớn, nhiều mặt của Người đã góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trong tầm nhìn của nhân loại tiến bộ, tư tưởng, đạo đức, tư tưởng văn hóa và nhân văn của Người để lại những dấu ấn không thể phai mờ. Tư tưởng ''Không có gì quý hơn độc lập tự do" của Hồ Chí Minh đã trở thành chân lý của thời đại, ngọn cờ chiến đấu của các dân tộc bị áp bức. Phieng Sisulat (Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thể thao Lào) khẳng định:
''Không có gì quý hơn độc lập tự do!
Một câu nói giản dị, ngắn gọn đã trở thành một câu danh ngôn mang những âm vang cộng hưởng không chỉ bó hẹp trong đất nước, con người Việt Nam mà còn là lý tưởng đấu tranh của nhân dân các nước bị áp bức bóc lột và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới”[5].
Danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh trở thành niềm tự hào chung của nhân dân các dân tộc bị áp bức. Bà Marcela Lombardo - Giám đốc Trung tâm nghiên cứu triết học chính trị và xã hội Mexico nhận định: ''Hồ Chí Minh đã tham gia và thúc đẩy... sự nghiệp vì hòa bình. Và như một nhà văn hóa, Người đã tham gia vào sự phát triển và truyền bá văn hóa, nhận thức được văn hóa như một kho tàng kiến thức của con người về thiên nhiên, cuộc sống, cũng như để đánh giá về sự tồn tại, mà giá trị của nó có thể tăng cường lòng tin vào tính hoàn thiện không ngừng của con người[6].
Trên mạch suy nghĩ đó đi tới một khẳng định: “… Những con người như Hồ Chí Minh ngày càng trở nên vĩ đại, vì họ là những người đã cho chúng ta lý do để sống và khả năng để thực hiện những giấc mơ của mình''[7]. Và dễ hiểu là ở giữa cơn khủng hoảng về chính trị, đạo đức, người ta lại tìm về Hồ Chí Minh vì ''Người đã để lại dấu ấn không thể sai lầm của mình để được tiếp tục theo đuổi trong các đảo lộn nhiều biến động, như Santi Mauroy (Giáo sư sử học Ấn Độ) đã khẳng định''.

Hồ Chí Minh đã đi vào cõi vĩnh hằng. Nhưng nhân loại, trên con đường vươn tới sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi người và của mọi người, đã tìm thấy trong tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh một giá trị trường tồn. Đúng như ý kiến của nhà văn Úc Allan Asbolt: "Nếu chúng ta muốn đối phó một cách hợp lý và mạnh mẽ với những vấn đề mà chủ nghĩa xã hội đang gặp phải, chúng ta phải học ở Hồ Chí Minh bằng cách phát triển những phẩm chất đã thể hiện trong suốt cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài của Người: Kiên nhẫn và vững vàng theo đuổi mục đích và bình tĩnh trong những lúc khó khăn; linh hoạt về tư duy và chính trị khi xây dựng khối đoàn kết xã hội chủ nghĩa; khiêm tốn và gần gũi với nhân dân, nhất là với công nhân và nông dân; có sự đồng cảm để đạt tới sự hòa giải dân tộc, có tinh thần Quốc tế mạnh mẽ; sự sáng tạo và nhạy bén về văn hóa, một sự hiểu biết có phân tích về lịch sử, đặc biệt là về cách thức mà những biến đổi lịch sử đã diễn ra; và phẩm chất mà Hồ Chí Minh có một cách dồi dào - đó là sự lạc quan của ý chí”[8].

NGUYÊN TRÃI (1380 - 1442)

Tên hiệu là Ức Trai, vốn người xã Chi Ngại, lộ Lạng Giang (nay thuộc tỉnh Hải Hưng) sau rời về Nhị Khê, châu Thượng Phúc, Lộ Đông Đô (nay thuộc tỉnh Hà Tây); xuất thân từ một gia đình quý tộc. Là con Nguyễn Ứng Long, tức Nguyễn Phi Khanh, nhà văn xuất sắc thời Trần - Hồ, là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, nhà thơ lớn và Tể tướng cuối triều Trần. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam với tư cách là nhà văn, nhà chính trị, nhà ngoại giao, nhà tư tưởng, nhà sử học và địa lý học... Về hoạt động xã hội, ông đã tích cực tham gia cuộc khởi nghĩa của Lê Lợi chống quân Minh, đồng thời cũng là bậc khai quốc công thần, một lòng đắp xây Vương triều Lê trong buổi ban đầu. Thảm án Lệ Chi Viên oan khiên chu di tam tộc mà Nguyễn Trãi gánh chịu, chính là hệ quả khôn lường của tấm lòng ngay thẳng; của thái độ tận tụy, nói thẳng nói thật, và cuối cùng lịch sử đã chứng minh nỗi oan cho ông. Ức Trai tâm thượng quang Khuê tảo (Lòng ức Trai sáng như sao Khuê - Lê Thánh Tông), được tôn là bậc thi bá (Nguyễn Mộng Tuân); là người viết thư thảo hịch, tài giỏi hơn hết một thời, văn chương gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế (Lê Quý Đôn); là sông Giang sông Hán trong các dòng sông, sao Ngưu sao Đẩu trong các vì sao (Tô Thế Nghi); viết nên áng hùng văn có khí lực dồi dào... đọc không biết chán (Phạm Đình Hồ); rõ ràng và trong sáng trong khoảng trời đất (Dương Bá Cung)...

Gắn liền với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn chống quân Minh, trên cương vị Tuyên phụng đại phu, Hàn lâm thừa chỉ Nguyễn Trãi đã có tập thơ binh vận - luận chiến nổi tiếng: Quân trung từ mệnh tập sử dụng đao bút như một thứ vũ khí lợi hại, góp phần làm suy yếu tinh thần quân địch. Sau chiến thắng năm 1428, Nguyễn Trãi đã viết Bình Ngô đại cáo được coi là áng Thiên cổ hùng văn; viết tiếp Phú Núi Chí Linh Lam Sơn Vĩnh Lăng thần đạo bi nêu bật công tích của Lê Lợi trong sự nghiệp cứu nước. Về sáng tác thơ, các tập thơ của ông hầu như được viết trong thời gian sau chiến tranh. Tập thơ Ức Trai thi tập bằng chữ Hán bao gồm 105 bài nằm trong dòng chảy thơ Đường truyền thống và trong hệ quy chiếu của mỹ học phong kiến. Riêng với Quốc âm thi tập bằng chữ Nôm gồm 254 bài, có thể coi Nguyễn Trãi là người chính thức khởi đầu bằng một tập đại thành thơ quốc âm, mở ra cả một dòng chảy lớn trong nền thơ ca dân tộc. Hơn thế nữa, Quốc âm thi tập còn có ý nghĩa là sự phá cách cách tân, khắc phục khuynh hướng quy phạm, mở rộng cảm quan sáng tác thi ca, đặc biệt trong cách diễn tả Thế giới thiên nhiên và nội tâm con người bằng ngôn ngữ và tâm hồn dân tộc.
Cũng vào thời kỳ hậu chiến, Nguyễn Trãi đã được ban họ Vua và tước quan Phục hầu, được giữ chức Nhập nội hành khiển kiêm Lại bộ Thượng thư, tiếp tục thay Vua soạn thảo nhiều chế, chiếu ban bố trong nước, và các thư biểu bang giao với nhà Minh. Ngoài ra, ông còn biên soạn bộ sách Dư địa chí Luật thư, nêu ý kiến tranh luận về luật hình, âm nhạc, văn hiến dân tộc. Tóm lại, Nguyễn Trãi đã trở thành hiện thân cho bước chuyển thời đại từ Phật giáo Lý – Trần sang Nho giáo; người đặt nền móng tư tưởng – văn học nghệ thuật cho thời đại Nho giáo thịnh trị, đặc biệt trong buổi đầu còn le lói ánh sáng hào quang của tinh thần Phục Hưng và ý nghĩa nhân văn. Đánh giá những đóng góp xuất sắc, đa dạng của Nguyễn Trãi đối với lịch sử dân tộc Việt Nam và sự phát triển những giá trị nhân văn, nhân loại; năm 1980, tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) đã ghi nhận ông là Danh nhân văn hóa và được kỷ niệm trên toàn thế giới.

VÕ NGUYÊN GIÁP VỊ TƯỚNG LỪNG DANH TRONG LỊCH SỬ

v     Tuổi thơ thanh bần và hiếu học
Tướng Giáp quê ở Làng An Xá, Lộc Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình, Ông siNh ngày 25 Tháng 8 năm 1911; thân sinh là cụ Võ Quang Nghiêm, một nhà Nho nghèo, yêu nước, giòng dõi khoa bảng, bất khuất và kiên cường. Chuyện kể rằng: Vào khoảng năm 1946- 1947, ở Huế, thực dân Pháp bắt được cụ chúng tra tấn dã man và giam cầm cụ ở Lao Thừa Phủ. Tên mật thám Pháp mắng cụ: . . . ''Không biết dạy con, để con dám chống lại quân đội Pháp hùng mạnh''. Cụ cười ngạo, vuốt râu trả lời: '' Tôi đẻ con ra, chưa kịp dạy thì con đã bỏ nhà đi làm cách mệnh. Chừ tôi có muốn dạy con thì còn mô mà dạy? Vậy tôi nhờ quân đội Pháp hùng mạnh đi bắt giúp con tôi về đây để tôi dạy thử, coi con tôi có chịu nghe không?”

Câu “chửi chữ” của một nhà Nho thâm thúy và bất khuất, "chửi'' ngay giữa lúc cái sống cái chết của cụ nằm trong tay nó, làm nó tức giận tát cụ gãy cả răng và nhốt cụ vào ''ca sô âm phủ''. Rồi chúng đem thủ tiêu cụ, bí mật chôn cụ lẫn lộn với thi hài của nhiều người khác, sau này gia đình và cơ quan không tìm được hài cốt của cụ nữa.

Lúc còn nhỏ, trước khi cắp sách đến trường làng, ông được cha dạy học chữ ở nhà. Ông lại thông minh và hiếu học. Tuy nhiên vì thà nghèo, ngay từ nhỏ, ông vẫn phải lao động để kiếm sống. Đến năm 13 tuổi, ông được vào Huế theo học ở Trường Quốc học; sau đó ông ra Hà Nội học ở khoa Luật, Trường Đại học Tổng hợp. Ông đỗ bằng Cử nhân luật và kinh tế chính trị học vào loại ưu (1937).
v     Thời niên thiếu
 Khi mới 14 tuổi, ông đã bắt đầu hoạt động cách mạng (1925). Năm 1929, ông tham gia cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Năm 1930, ông bị thực dân Pháp bắt giữ vì tham gia các cuộc biểu tình chống Pháp. Cuối cùng chúng vẫn phải thả ông ra. Ông hoạt động đấu tranh cách mạng trên mặt trận văn hóa, viết bài cho những tờ báo công khai hồi đó: Tin tức; Nhân dân; Tiếng nói của chúng ta; Lao động; làm biên tập viên cho các báo của Đảng; dạy Sử - Địa ở Trường Tư thục Thăng Long. Năm 1934, ông kết duyên với bà Nguyễn Thị Quang Thái, một Đảng viên Cộng sản, cộng sự đắc lực của ông. Trong những năm hoạt động bí mật ở Hà Nội, hai ông bà đã từng chung sống ở căn nhà số 46 Phố Nam Ngư. Sau này bà bị chết trong ngục tù của Pháp.
Năm 1936 - 1939, phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương lên cao, ông là một trong những sáng lập viên của Mặt trận và là Chủ tịch ủy ban báo chí Bắc Kỳ trong phong trào Đông Dương Đại hội. Ông cùng ông Trường Chinh là đồng tác giả cuốn sách Vấn đề dân cày trong đó nêu rõ quan điểm: ''Vấn đề then chốt ở Đông Dương là trao ruộng đất cho dân cày”.
Tháng 5 năm 1940, ông cùng với ông Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và được sự dìu dắt của Người. Ông vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1940.
Tháng 5 năm 1941, trở về Cao Bằng, dưới sự lãnh đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, ông cùng mấy cán bộ cao cấp khác xây dựng cơ sở cách mạng, lập ra Mặt trận Việt Minh.
Năm 1942, ông phụ trách ban ''Xung phong Nam tiến”. Tháng 12-1944, ông được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trao nhiệm vụ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng Quân; đến ngày 22-12-1944, tại một khu rừng ở Châu Nguyên Bình, Tỉnh Cao Bằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ủy nhiệm ông đứng ra tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng Quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Và ông được giao nhiệm vụ trực tiếp lãnh đạo và chỉ huy. Cuối Tháng 3-1945, ông đưa Đội VNTTGPQ tiến xuống phía Nam, hội quân với Đội Cứu Quốc quân của ông Chu Văn Tấn ở vùng Chợ Chu, Thái Nguyên để thống nhất tổ chức thành Việt Nam Giải phóng Quân.
Tháng 8-1945, ông được cử làm ủy viên ủy ban Quân sự Cách mạng Bắc kỳ làm Tổng chỉ huy các đội Việt Nam Giải phóng Quân và là ủy viên Ban chỉ huy lâm thời Khu giải phóng Việt Bắc. Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ II (1945) cử ông vào Ban chấp hành Trung ương và làm ủy viên Ban Thường vụ của BCHTƯ. Ông tham gia ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc ủy ban Giải phóng dân tộc Việt Nam, và làm Bộ trưởng Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. Tháng 1-1946 ông được cử làm Chủ tịch quân sự, ủy viên hội trong Chính phủ liên hiệp và làm phó trưởng đoàn trong phái đoàn Chính phủ VNDCCH đàm phán với Pháp ở Đà Lạt[1].
Ngày 20-1-1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong ông làm Đại tướng đầu tiên của QĐNDVN (sắc lệnh số 110).
Ngày 27-10-1948, Ban Thường vụ Trung ương ĐCSĐD ra nghị quyết ''lập chế độ chính trị ủy viên, đại diện Đảng trong các đơn vi quân đội từ Trung đoàn trở lên, ông làm Tổng chỉ huy kiêm Tổng chính ủy[2].
Tháng 6-1950, có Nghị quyết của Thường vụ Trung ương Đảng chấn chỉnh tổ chức thành Bộ quốc phòng - Tổng tư lệnh, ông giữ chức phó Thủ tướng, Bộ trưởng quốc phòng kiêm Tổng tư lệnh, Tổng chính ủy, Bí thư Quân ủy Trung ương. Ông liên tục đảm nhiệm những chức vụ trên trong suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (1945 - 1975).
Về Đảng, ông liên tục được bầu làm ủy viên Trung ương các khoá II (1951) đến VI (20-12-1986), làm ủy viên Bộ chính trị các khóa II đến IV (1976). Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I (1946) đến IV (1986).
Cho đến khi ông thôi giữ chức Phó Thủ tướng - Bộ trưởng Bộ quốc phòng (1980) rút khỏi Bộ chính trị, (1982) ông lại được cử làm Chủ tịch ủy ban sinh đẻ có kế hoạch (cuối 1983). Cuối năm 1993, ông được suy tôn làm Chủ tịch danh dự Hội Cựu chiến binh Việt Nam. Thôi tham gia chính sự, ông chuyển sang làm một số công việc quan trọng có tính cơ bản lâu dài khác: làm công tác tổng kết chiến tranh, xây dựng lý luận khoa học quân sự, tham gia các hoạt động khoa học của nhiều ngành, dự nhiều cuộc hội thảo khoa học và viết sách. . . Hiện nay ông vẫn tiếp tục làm việc.
Ông đã được nhận: một Huân chương Sao vàng, hai Huân chương Hồ Chí Minh, hai Huân chương Quân công hạng I, một Huân chương chiến thắng hạng I của Nhà nước tặng.
v     Những giây phút quyết định của một sự nghiệp làm tướng
Ông chuyển sang hoạt động quân sự theo sự chọn lựa và phân công của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã từng nói: ''Việc quân sự thì giao cho chú Văn”. Là một thành viên trong Bộ chính trị ĐCSĐD (nay là ĐCSVN) ông là người trực tiếp tham gia hoạch định những quyết định lớn của Đảng và Nhà nước về đường lối cách mạng qua từng giai đoạn của cuộc kháng chiến. Và ông cũng là người xây dựng đường lối quân sự, chiến lược quân sự, đề ra những chủ trương lớn về tác chiến để đưa ra tập thể lãnh đạo quyết định; sau đó chính ông là người tổ chức việc thực hiện cụ thể trong toàn quân và toàn dân. Đó là đường lối chiến tranh nhân dân và quân đội nhân dân, phát động chiến tranh giải phóng dân tộc toàn dân toàn diện và trường kỳ, tổ chức lực lượng vũ trang 3 thứ quân làm nòng cốt cho đấu tranh vũ trang của quần chúng. Chiến tranh nhân dân thần thánh phát triển đến một đỉnh cao ở Việt Nam đã đánh bại chiến tranh xâm lược của hai ''đế quốc to” giàu mạnh hơn Việt Nam gấp nhiều lần. Trong cuộc chiến tranh này, chiến thuật du kích đã được ông nâng lên tầm vóc một chiến lược thực sự hữu hiệu, và sự kết hợp giữa chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy được phát triển đạt đến một trình độ cao. ''Sự kết hợp này, xưa nay chưa từng có”[3].
Ông đã chủ động tổ chức các binh đoàn chủ lực, thường là ''Đi trước một bước"; Đại đoàn 308 được thành lập ngày 28-8-1949; đại đoàn 304 Tháng 3- 1950; kế đó là các đại đoàn 312, 320, 316, 325,v.v… và đại đoàn pháo binh 351 được tổ chức vào những năm 1950-1951  để vừa xây dựng vừa chiến đấu, trưởng thành và tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ quyết định vào năm 1954. Sư đoàn phòng không 367 thành lập năm 1957 - 1958 đã nhanh chóng phát triển thành quân chủng phòng không không quân hiện đại, làm nòng cốt cho chiến tranh nhân dân chống chiến tranh leo thang phá hoại miền Bắc bằng không quân Mỹ nổ ra ngày 5-8-1964. Các quân đoàn chủ lực cũng được tổ chức sớm, có quân đoàn vừa tác chiến vừa tổ chức để hình thành cánh cung chiến lược phía Tây và phía Đông đánh vào Sài Gòn cuối Tháng 4-1975.
Về chỉ đạo tác chiến chiến lược: Ông đã thực hiện từng bước, chủ động và vững chắc: từ tạo thế chiến lược đến chuyển thế chiến lược và giành chủ động trên từng chiến trướng đến giành chủ động chiến lược trong cả nước. Ông nắm bắt đúng thời cơ chọn đúng đối tượng, đánh đúng ''huyệt hiểm yếu chí tử'' của địch để giáng đòn quyết định giành thắng lợi quyết định. Bốn kế hoạch chiến lược đầy tham vọng của thực dân Pháp kế tiếp nhau bí thất bại. Từ kế hoạch Leclerc, Valluy (Lơcờléc, Valuy) dùng chiến lược ''đánh nhanh thắng nhanh" bị phá sản đến kế hoạch Revers (Rơve 1949-1950) dùng chiến lược bình định lấn chiếm và bao vây cô lập nước ta với chính sách ''dùng người Việt đánh người Việt”, ''lấy chiến tranh nuôi chiến tranh'' cũng bị ra tro. Thực dân Pháp lại thay bằng kế hoạch chiến lược De Lattre de Tassigny (Đờlát đờ Tátsinhi 1950- 1953) với chiến lược ''tăng cường bình định vùng đồng bằng và trung du kết hợp tấn công bằng các binh đoàn mạnh" nhằm chia cắt chiến lược hậu phương ta, giành giật quyền chủ động''. Kế hoạch này cũng bị đập tan khi chúng đánh ra vùng Hòa Bình. Đứng trước nguy cơ bị thất bại hoàn toàn, Chính phủ Pháp liền đưa tướng Henri Navarre (Hăngri Nava), một viên tướng có tiếng tăm lừng lẫy và đã từng chiến thắng ở chiến trường Bắc Phi, sang thay thế cho De Tassigny làm tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương (5-1953) để hòng cứu vãn tình thế.
Song kế hoạch của Navarre cũng bị ra ma khi ta tiêu diệt tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, bắt sống tướng De Castri làm tiêu tan luôn ý chí xâm lược của thực dân Pháp buộc họ phải ký hiệp định đình chiến ở Genève, công nhận nền độc lập của 3 nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia). Trong 9 năm xâm lược Việt Nam (1945 - 1954), 7 tướng sừng sỏ của Pháp[4]đã luân phiên nhau thất bại trước quân dân ta và viên tướng trẻ tuổi Việt Nam mới 43 tuổi.
Trải qua 21 năm liên tục chiến đấu; giải phóng miền Nam, có Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ chính trị và Quân ủy Trung ương lãnh đạo, tướng Giáp đã chỉ huy quân và dân Việt Nam đánh thắng 5 loại hình chiến tranh ở miền Nam; 4 tướng Mỹ có tên tuổi[5]đã kế tiếp nhau thi thố tài năng, rút cục tướng Owen (Hoen) đành phải ngậm ngùi cuốn cờ trở về đất Mỹ.
Về chỉ đạo tác chiến chiến dịch; Đại tướng đã tham gia trực tiếp chỉ huy nhiều chiến dịch lớn, có tầm quan trọng quyết định. Thực tiễn chiến thắng trên chiến trường đã khẳng đỉnh rằng quyết định của Chủ tịch Hồ Chí Minh và của Bộ Chính trị ĐCSVN cho ''xuất  tướng" vào những chiến dịch quyết định là qúy giá và vô cùng sáng suốt. Trong các chiến dịch đó, Đại tướng đã phát huy nghệ thuật chỉ đạo tác chiến chiến dịch lên một đỉnh cao bằng những quyết đoán táo tạo, sắc bén, kịp thời và chính xác. Chiến dịch Biên Giới (9-1950 - 10-1950), ông đã chọn đúng điểm đột phá chiến dịch, vận dụng triệt để phương pháp tác chiến ''đánh điểm, diệt viện'' để tiêu diệt hoàn toàn hai binh đoàn lê dương Lepage (Lơ pa giơ) và Charton (Sác tông) giải phóng Đường số 4, phá thế bao vây cô lập ta về chiến lược ''của kế hoạch Revers”. Chiến dịch Biên Giới đánh đấu một bước phát triển cao về nghệ thuật chiến dịch của quân ta. Tướng Giáp và Bộ chỉ huy chiến dịch đã lập kế điều động các binh đoàn cơ động của Pháp lên Đông Khê để tiêu diệt, thực hiện phương châm ''sức dùng một nửa công được gấp đôi”. Cao Bằng, Lạng Sơn ta không đánh mà địch phải rút chạy.
Trong chiến dịch Hòa Bình (12-1951 -  2-1952) nhằm đúng lúc tướng Pháp De Lattre de Tassigny đem chủ lực ra chiếm giữ Hòa Bình nhằm chia cắt chiến trường Bắc Bộ, để hở vùng hậu phương của chúng. Đại tướng đã dùng 3 sư đoàn: 308; 312; 304 giam chân và tiêu hao, tiêu diệt chủ lực địch ở mặt trận chính diện, và tung hai sư đoàn 316 đánh vào vùng trung du và 320 đánh vào vùng đồng bằng Thái Bình, Hà Nam Ninh, kết quả là quân ta đã phá rỗng hậu phương địch, chiến tranh nhân dân được đẩy mạnh ở những vùng này. Ta đã phá được âm mưu chia cắt chiến lược của địch và giành giữ được quyền chủ động chiến trường. Kế hoạch chiến lược De Tassigny của Pháp bị phá sản.
Dựa vào thế chiến lược đã được tạo ra có lợi, Bộ Chính Trị ĐLĐVN và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn điểm quyết chiến chiến lược là Điện Biên Phủ, nơi tập trung sinh lực tinh nhuệ của địch. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ định Đại tướng trực tiếp làm Tư lệnh kiêm Bí thư Đảng ủy chiến dịch. Khi địch mới đổ quân xuống Điện Biên Phủ và bị bao vây, phương châm chiến dịch là ''Đánh nhanh, giải quyết nhanh'' với yêu cầu ''đánh tiêu diệt'' ''đánh chắc thắng”. Trước khi phát lệnh bắt đầu chiến dịch, Đại tướng kiểm tra lại tình hình thì thấy địch đã được tăng cường với lực lượng mạnh hơn, hệ thống trận địa phòng ngự được củng cố, có công sự vững chắc và đã hình thành thế liên hoàn của một tập đoàn cứ điểm mạnh. Lúc này, nếu đánh địch chạy, thì không chắc thắng.
Đại tướng đã đi đến một quyết định: "Hoãn thời gian nổ súng, kéo pháo ra, cho bộ đội lui về phía sau, chuẩn bị lại kỹ càng và đầy đủ mọi mặt”. Quyết tâm của ông đã được Đảng ủy chiến dịch nhất trí. Ông báo cáo lên Bác: "Quyết tâm thay đổi phương châm tác chiến từ đánh nhanh, giải quyết nhanh sang đánh chắc tiến chắc dù phải khắc phục nhiều khó khăn”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chấp thuận đề nghị của Đại tướng.
Trong 55 ngày đêm, chiến dịch Điện Biên Phủ đã giành được thắng lợi quyết định và vang dội![6]Thế giới hồi đó khi nói đến Việt Nam là nhắc: ''Việt Nam - Hồ Chí Minh - Võ Nguyên Giáp Điện Biên Phủ”.

v     Đại tướng với cuộc tổng tiến công và nổi dậy Mùa Xuân 1975
Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng (24-5 - 30-6-1973) xác định nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam lúc này là ". . . Tiếp tục con đường bạo lực cách mạng mở đường đi tới thắng lợi cuối cùng!. . .[7]
Trong những giờ phút rày, vấn đề lớn mà Đại tướng luôn trăn trở, dốc thiều tâm huyết là thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ước mong đó đã được thể hiện trong Nghị quyết Tháng 6-1973 của Bộ Chính trị ĐCSVN và sau đó Nghị quyết 21 (Tháng 10-1973) của Ban Chấp hành Trung ương ĐCSVN.
Đại tướng đã chỉ thị thành lập Tổ Trung tâm của cục tác chiến, bao gồm những cán bộ tham mưu chiến lược lão luyện do Tổng tham mưu trưởng, tướng Văn Tiến Dũng và phó Tổng tham mưu trưởng, tướng Lê Trọng Tấn trực tiếp chỉ đạo (sau này khi hai ông ra mặt trận, thì phó Tổng tham mưu trưởng thứ nhất là tướng Hoàng Văn Thái, từ mặt trận miền Nam trở về thay thế chỉ đạo). Tổ Trung tâm được giao trọng trách nghiên cứu lập kế hoạch tác chiến chiến lược giải phóng miền Nam. Ngày 18-7-1974, Đại tướng chỉ thị cho Tổ Trung tâm lập kế hoạch chiến lược cơ bản để thông qua Bộ Chính trị.[8]
Ngày 21-7-1974 tại Đồ Sơn, cố Tổng bí thư ĐCSVN Lê Quẩn phân tích cho Tổ Trung tâm rõ hơn tình hình mới và yêu cầu mới của cách mạng ở miền Nam.
"… Ngày nay, vấn đề Việt Nam và Đông Dương càng nổi lên trong vùng Đông Nam châu Á, một vùng mà nhiều nước kể cả Trung Quốc và Nhật đều có ý đồ tranh giành ảnh hưởng. . . Họ rất sợ ba nước Đông Dương thắng lợi và mạnh lên. Vấn đề đặt ra với ta là làm sao tạo thời cơ để giành thắng lợi sớm hơn, thắng ngay trong lúc các nước đó chưa sẵn sàng can thiệp. . . Ta cần nghiên cứu cách đánh thắng thế nào, phải thắng to, thắng nhanh để ngụy không kịp trở tay, các nước có ý đồ không kịp can thiệp. Muốn vậy phải chuẩn bị cho cuộc tổng công kích - tổng khởi nghĩa dứt điểm trong vòng 1 – 2 tháng khi có thời cơ chiến lược,…[9].Giải phóng miền Nam với thời gian nhanh nhất, đó là yêu cầu của thời thế, đó là nguyện vọng thiêng liêng của đồng bào miền Nam và cả nước, nhất là của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Trong ngày 18-7-1974, khi chỉ thị cho Tổ trung tâm chuẩn bị kế hoạch chiến lược, Đại tướng đã nhận định và phân tích:
''…Xây dựng kế hoạch cơ bản theo hai bước, bước một: giành thắng lợi có ý nghĩa quyết định. Đó là lúc ta đã làm thay đổi hẳn so sánh lực lượng trên chiến trường. . . ;bước hai: trên cơ sở đó phát triển lên tổng công kích - tổng khởi nghĩa giành thắng lợi hoàn toàn.
Về chọn hướng chiến lược, nên chọn hai hướng: Tây Nguyên và miền Tây Nam Bộ…”[10]
Bản dự thảo kế hoạch chiến lược do Tổ Trung tâm làm, qua 7 lần bổ sung chỉnh lý đến tháng 8-1974 mới hoàn chỉnh và được đưa ra Hột nghị Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương đợt một phê duyệt (30-9 - 8-10-1974). Quyết tâm chiến lược là giải phóng miền Nam trong hai năm; năm 1975 đánh Nam Tây Nguyên và các nơi khác đánh phối hợp; Tây Nguyên là hướng chủ yếu. . . Thời cơ chiến lược có thể xuất hiện vào đợt hai sau khi đánh vào Nam Tây Nguyên. Trong bất kỳ tình huống nào cũng không được để lỡ thời cơ chiến lược…[11]
Sau chiến thắng Phước Long, ngày 5-2-1975, Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Văn Tiến Dũng được phái vào Tây Nguyên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch Tây Nguyên, chỉ huy hoạt động tác chiến của các binh đoàn thuộc Nam Bộ và chuẩn bị cho chiến dịch quyết định cuối cùng. 10-3-1975 Buôn Ma Thuột bị tiêu diệt, gây một chấn động chiến lược cho địch. Sáng 16-3 địch ở Tây Nguyên rút chạy. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phân tích tình hình, đại ý: "Điểm trúng huyệt chí tử của địch ở Buôn Ma Thuột, gây cho địch chấn động về chiến lược, buộc địch phải rút bỏ Tây Nguyên, thì phải nhanh chóng đánh Huế và Đà Nẵng. Nếu ở đây chúng cũng phải rút lui chiến lược thì phải cấp tốc đánh thẳng vào Sài Gòn”.
Thế là sau 5 tháng thực hiện Nghị quyết, Tháng 10-1974, quân dân ta đã tạo nên sự chuyển biến mau lẹ tình hình chiến trường rất cơ bản. Ngày 18-3-1975. Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương họp để chỉ đạo tác chiến, Đaịi tướng đề nghị lên Bộ Chính trị ''Hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong năm nay" (1975), bộ Chính trị đồng ý ''Hạ quyết tâm hoàn thành kế hoạch hai năm ngay trong năm 1975”. Với quyết tâm đó, trên thực tế cuộc tiến công chiến lược đã chuyển thành cuộc tổng tiến công chiến lược[12].
Liền sau đó 7 ngày (18-3 - 25-3-1975), Bộ Chinh trị và QUTƯ họp chính thức để nghe báo cáo và hạ quyết tâm mới. Cố Tổng bí thư Lê Quẩn cùng các ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ đều phát biểu sôi nổi phân tích tình hình và đề ra nhiều ý kiến sắc bén để chỉ đạo. Đaịi tướng phân tích và  đề đạt: ''Không cần đợi giải quyết xong Huế mới bắt đầu tiến công Đà Nẵng; phải đánh Đà Nẵng.ngay. . . Ở hướng Sài Gòn, lực lượng đã đủ - yêu cầu trong tháng Năm phải giải quyết xong Sài Gòn . . . ?
Sau khi giải phóng Huế, Mặt trận Quảng Đà lập tức được thành lập gồm Quân đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 5 với Tư lệnh là phó Tổng tham mưu trưởng Lê Trọng Tấn, vị tướng mà cán bộ ở Tổng hành dinh thường mệnh danh là ''Giũ Cốp Việt Nam", và Chính ủy là tướng Chu Huy Mân (sau này là Đại tướng chủ nhiệm Tổng cục Chính trị QĐNDVN).
Ngay sau khi được thành tập (27-3-1975) Mặt trận Quảng Đà đã nhanh chóng tổ chức lực lượng, tổ chức hiệp đồng tác chiến tấn công đồng loạt (29-3-1975) và chỉ trong 32 giờ quân ta đã đập tân một cụm quân lớn nhất ở phía Bắc chiến trường miền Nam do tướng ngụy Ngô Quang Trưởng chỉ huy, giải phóng căn cứ quân sự liên hiệp lớn Đà Nẵng. Thực chất đây chính là ''vòng cung chiến lược phía Đông'' mà Đại tướng Tổng tư lệnh đã ấp ủ, tính toán từ trước. Và chỉ trong một tháng thực hiện phương châm ''thần tốc táo bạo, bất ngờ chắc thắng'', vòng cung chiến lược phía Đông cùng các binh đoàn và bộ đội địa phương tại chỗ đã giải phóng toàn bộ các thành phố, thị trấn dọc Đường số 1, các tỉnh Đông Nam bộ; sau đó cùng Quân đoàn 4 và các lực lượng vũ trang thuộc Quân khu 7 tiến đánh thẳng vào Sài Gòn . . .
Chiến dịch Hồ Chí Minh (26-4 - 30-4. Tư lệnh: Đại tướng Văn Tiến Dũng; Chính ủy: ông Phạm Hùng, Bí thư Trung ương cục Đảng CSVN; Phó tư lệnh: tướng Trần Văn Trà, tướng Lê Trọng Tấn v.v...) đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của dân tộc giao cho. . .
Tướng Giáp và Bộ Tổng tư lệnh đã thiết kế nên một thế trận giải phóng miền Nam với mưu kế thật kỳ diệu: căng địch ra ở hai đầu chiến tuyến. Phía Bắc giữ địch ở mặt trận Huế - Đà Nẵng. Phía Nam giữ địch ở Sài Gòn. Giữ địch ở hai đầu như thế làm cho địch bộc lộ sơ hở ở quãng giữa miền Trung và Tây Nguyên. Khi địch đã rơi vào mưu kế và thế trận của ta sắp đặt, ta bất ngờ phá vỡ Tây Nguyên, tạo ra đột biến về chiến lược. Lợi dụng thời cơ, giải phóng Huế, Đà Nẵng, đẩy địch vào thế bị tan rã và sau đó tập trung toàn bộ lực lượng gồm 5 Quân đoàn giải phóng Sài Gòn.
v     Văn võ song toàn
Đại tướng là người ham nghiên cứu học tập. Ông đọc các sách Đông, Tây, Kim, Cổ; nghiên cứu lịch sử các cuộc chiến tranh, lịch sử quân sự thế giới và của một số nước; đọc các trước tác của Marx, Engels, Lenine, Mao Trạch Đông, v.v. . . của Napoléon, Tôn Tử, Clausewitz và một số tác giả đương đại khác. Ông trân trọng học tập binh thư của tổ tiên, nghiên cứu binh thư của Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi. Ông tiếp thu và phát triển sáng tạo tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Tất cả những cái đó để ông tự bồi đắp cho mình một học vấn uyên thâm về khoa học quân sự.
Thư viện Trung ương của quân đội đã lưu giữ được nhiều tác phẩm và sách lý luận của Đại tướng từ năm 1948 đến ray: 64 đầu sách với 10328 trang in; trong đó có cả những tác phẩm văn học, sách viết về đề tài khoa học, kỹ thuật, kinh tế v.v. . . có cuốn được tái bản đến 5 lần. Đó là chưa kể đến hai cuốn mới được xuất bản trong răm 1995 là cuốn Chiến đấu trong vòng vây Điện Biên Phủ. Ngoài ra còn có 21 tuyển tập gồm các lệnh động viên, báo cáo tổng kết, diễn văn, huấn thị, chỉ thị,v.v…
Hiện nay Đại tướng đã ở tuổi 95 nhưng vẫn còn khỏe, minh mẫn không ngừng làm việc và viết sách. Số trang sách in của ông chắc không dừng lại ở con số 10328 trang.
Uy tín của Đại tướng tỏa rộng trong nước và ngoài nước.
Ký giả Piter Mac Donal (Pitơ Mác-đô-nan) người Anh viết: "1944 đến 1975, cuộc đời của ông Giáp gắn liền với chiến đấu và chiến thắng, đã làm ông trở thành một trong những Thống soái lớn của tất cả các thời đại.
Với 30 năm làm Tổng tư lệnh và gần 50 năm tham gia chính sự ở Cấp Cao nhất, ông đã tỏ ra là  người có phẩm chất phi thường trong mọi lĩnh vực của chiến tranh; khó có vị tướng soái nào có thể so sánh với ông trong việc kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy ở trình độ cao. Sự kết hợp đó xưa nay chưa từng có”[13].
Ký giả G.Bonrlet (G. Bon nê) người Pháp viết vào Từ điển Bách khoa toàn thư Pháp: ''Là người tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam, ông Võ Nguyên Giáp đã thực hiện được một sự tổng hợp độc đáo các học thuyết quân sự Mác xít kết hợp nhuần nhuyễn với truyền thống kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc vận dụng khôn khéo vào những điều kiện của một quốc gia có đất đai tương đối hẹp”[14].

Donal S. Marshall (Đô nan S.Mắc san) ký giả người Mỹ viết: ''Đại tướng Giáp, vị tướng 5 sao của quân đội Bắc Việt Nam kiêm Bộ trưởng quốc phòng là vị tướng duy nhất được biết đến nhiều nhất trong các cuộc chiến tranh Đông Dương - Việt Nam. Ông Giáp (còn cô tên là anh Văn) đã có một vị trí trong lịch sử Thế giới qua việc lãnh đạo lực lượng Việt Minh đánh bại lực lượng Pháp ở Điện Biên Phủ. . .[15]

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 Báo Gương Thành Công | Những Gương Mặt Nổi Trội , Tấm Gương Học Hỏi