kinh te

Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh te. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kinh te. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 10 tháng 9, 2015

Gia Cát Lượng - Khổng Minh (181 - 234)

Từ xưa đến nay, trong dân gian, người ta đã thần thánh hóa nghệ thuật chỉ huy của Gia Cát Lượng, coi đó là hiện thân của trí tuệ. Cuộc đời chinh chiến mang đầy tính huyền thoại của ông đã cho thấy ông đúng là một nhà quân sự lỗi lạc. Không ít các nhà quân sự nổi tiếng sau này đã thành công khi vận dụng một  cách sáng tạo nghệ thuật quân sự của ông. Ông là người đã kế thừa và phát triển được binh pháp cổ dại và xây dựng thành một hệ thống quân sự khá độc đáo.


Gia Cát Lượng tự là Khổng Minh sinh năm 181 ở huyện Đô, quận Lang Nha (nay là huyện Nghi Nam, tỉnh Sơn Đông). Vì bố mẹ mất sớm, nên từ nhỏ  Gia Cát Lượng đã đi theo người chú làm quan là Gia Cát Huyền sinh sống ở Dự Dương (nay là Nam Xương, Giang Tây) và Kinh Châu. Năm 197, Gia Cát  Huyền chết. Lúc đó, Gia Cát Lượng bước sang tuổi 17, bắt đầu bước vào cuộc sống tự lập, ông dựng mấy ngôi nhà tranh ở Long Chung, huyện Đặng, quận Nam Dương (nay là chỗ cách thành phố Tương Dương, tỉnh Hồ Bắc khoảng 20  dặm) và sống ẩn dật ở đó 10 năm, tự cày ruộng để sinh sống, người ta kính trọng gọi ông là ''Ngọa Long tiên sinh''.
Mùa đông năm 207, nhờ Từ Thứ và Tư Mã Huy tiến cử Lưu Bị ở tuổi 47 lặn lội qua gió rét tìm đến tận Long Trung để gặp Gia Cát Lượng.
Hai lần đầu đến đều không gặp, lần thứ ba Lưu Bị mới gặp được Gia Cát  Lượng. Tận mắt thấy Lưu Bị là một người trọng hiền đãi sĩ, lại hết mức chân  thành, ông đã đồng ý giúp Lưu Bị khôi phục lại nhà Hán.
Đầu tiên, Gia Cát Lượng phân tích cặn kẽ tình hình chính trị, kinh tế, quân sự, địa lý, con người... trong nước lúc đó, rồi phác thảo ra chiến lược phục hưng cơ nghiệp nhà Hán. Đoạn nói chuyện, được sử sách ghi chép lại dưới tựa đề nổi tiếng là ''Cuộc đối thoại ở Long Trung'', Gia Cát Lượng chỉ ra rằng: nếu như chiếm được Kinh Châu và Ích Châu, dựa vào thế hiểm yếu để cố thủ, đồng thời xây dựng mối quan hệ hữu hảo với các dân tộc thiểu số ở miền Tây; đối với  các dân tộc thiểu số ở miền Nam thì áp dụng chính sách động viên vỗ về. Về  mặt đối ngoại thì liên kết đồng minh với Tôn Quyền; về đối nội thì thực hành cải  cách chính trị, tích cực xây dựng lực lượng. Khi nào thời cơ cho phép, thì cử  một viên đại tướng tài năng và mẫn cán đem quân Kinh Châu sang đánh lấy Uyển Thành (nay là Nam Dương, tỉnh Hà Nam) và Lạc Dương mưu đồ giành lấy Trung Nguyên, còn Lưu Bị thì tự minh đem quân ích Châu đánh lấy Tần Châu nay là vùng Thiểm Tây, Cam Túc) tiến lên chiếm Tràng An. Đến lúc đó,  dân chúng ai cũng đem cơm trắng, rượu ngon để đón tiếp. Nếu thực hiện được việc đó thì việc lớn của Lưu Bị chắc sẽ thành công, cơ đồ nhà Hán sẽ được khôi phục.
Nhằm thực hiện kế hoạch to lớn đó, xuất phát từ tình hình thực tế, Gia Cát Lượng còn phân tích thêm về các thế lực cát cứ và so sánh lực lượng giữa các thế lực đó cũng như quan hệ đối kháng với nhau, rồi đề nghị với Lưu Bị thực hiện ba bướu trong kế hoạch chiến lược. Một là, tiêu diệt các thế lực yếu kém như: Lưu Biểu, Lưu Trương để chiếm Kinh Châu, ích Châu xây dựng thành căn cứ địa, hình thành thế chân vạc với Tào Tháo, Tôn Quyền. Hai là, cải thiện mối quan hệ với các dân tộc thiểu số, tiến hành cải cách chính trị, ổn định nội bộ,  tích trữ lực lượng, kết giao với Tôn Quyền để cô lập Tào Tháo, chờ đợi thời cơ. Ba là, nắm bắt thời cơ có lợi nhất, chia binh thành hai ngả, tiến lên phía Bắc đánh Ngụy, hoàn thành nhiệm vụ thống nhất. Kế hoạch chiến lược với tầm nhìn xa rộng cho thấy Gia Cát Lượng tuy tuổi còn trẻ nhưng đã có tầm nhìn của một nhà chiến lược lỗi lạc.
Ông đã giúp Lưu Bị phát triển quân đội, dùng kế lấy được Kinh Châu. Khi Tào Tháo đem đại quân Nam thành, Lưu Bị đã bị thua to ở dốc Trường Bản, Gia Cát Lượng tự mình đi sứ sang Đông Ngô để thuyết phục Tôn Quyền liên kết chống Tào và giành được thắng lợi vang dội ở trận Xích Bích. Ông hỗ trợ Lưu Bị mở rộng hầu hết địa bàn Kinh Châu, sau đó giành được Ích Châu, tạo thành thế cát cứ ba chiều hình chân vạc, bước đầu thực hiện được giai đoạn 1 của kế hoạch được nêu ra trong cuộc đối thoại ở Long Trung.
Sau khi Lưu Bị ốm chết, Gia Cát Lượng tiếp tục phò tá hậu chúa Lưu Thiền mới có 17 tuổi. Với chức danh thừa tướng ông gánh vác trọng trách trị vì Thục Hán, tiếp tục phấn đấu cho mục tiêu thống nhất thiên hạ nhà Đại Hán.
Năm 223, Gia Cát Lượng bắt tay vào thực hiện bước 2 của kế hoạch chiến lược. Một mặt, ông cử Đặng Chi sang làm sứ giả ở Đông Ngô, khôi phục lại mối quan hệ đồng minh với Tôn Quyền. Đồng thời chấn chỉnh nền chính trị trong nước, ổn định nội bộ, dự trữ lương thực, chuẩn bị kĩ lưỡng cho cuộc chiến Bắc phạt. Đúng lúc đó ở Nam Trung (nay thuộc huyện miền Nam Tứ Xuyên, miền Đông Vân Nam và miền Tây Bắc Quý Châu) xảy ra cuộc phản loạn vũ  trang ở quận ích Châu (nay thuộc Tấn Ninh, Vân Nam) của bọn địa chủ do Ung Khải cầm đầu, họ đã giết chết quan Thái thú do Thục Hán bổ nhiệm. Tiếp đó, lại  nổ ra hai cuộc nổi loạn khác để hưởng ứng, đó là cuộc khởi nghĩa của Chu Bảo ở Hoàng Bình - Quý Châu và Cao Định ở Tây Xương - Tứ Xuyên. Ung Khải sai  Mạnh Hoạch tiến hành tuyên truyền xuyên tạc trong đồng bào thiểu số ở vùng Nam Trung. Do Mạnh Hoạch kích động nên phong trào chống đối ngày càng mạnh mẽ, đội ngũ ngày càng đông đảo chẳng bao lâu đã lan truyền khắp vùng  Nam Trung .
Sau khi xảy ra phản loạn, đầu tiên Gia Cát Lượng áp dụng chính sách an ủi vỗ về không thảo phạt, tức là giải quyết bằng phương thức hòa bình. Tuy nhiên, Ung Khải lại cho rằng chính quyền Thục Hán nhu nhược, yếu đuối, có thể lấn tới được nên y càng quậy phá mạnh hơn. Vì vậy muốn ổn định hậu phương, nhằm thực hiện việc lớn là Bắc phạt, Gia Cát Lượng quyết tự mình đem quân  xuống phía Nam.
Đầu năm 225, Gia Cát Lượng sai Mã Trung chỉ huy cánh quân phía Đông, đi từ Nghi Tân xuống phía Đông Nam để đánh Chu Bảo; cử Lý Khôi  đang đóng quân tại Bình Dị nay là huyện Tất Tiết, tỉnh Quý Châu) đem binh mã dưới quyền làm cánh quân trung lộ đánh vào quận ích Châu, nhằm bao vây bọn Ung Khải. Còn Gia Cát Lượng đích thân dẫn quân chủ lực đi theo hướng Tây, trước hết đánh Cao Định, sau đó sẽ hợp với hai cánh quân và tập trung đánh Ung Khải, dập tắt cuộc bạo loạn. Cánh quân phía Tây dưới sự chỉ huy của Gia Cát Lượng xuất phát từ An Thượng (nay thuộc Bình Sơn - Tứ Xuyên) tiến vào vùng nổi loạn. Cao Định đã cho quân đào hào đắp luỹ phòng thủ tại Hán Nguyên, Diêm, Nguyên, Chiêu Giác... Gia Cát Lượng cố ý chần chừ không tiến quân. Khi Cao Định tập trung quân từ các nơi về một chỗ, Gia Cát Lượng mới đánh một trận quyết định, tiêu diệt hết quân phản loạn, giết chết Cao Định. Trong lúc đó, cánh quân phía Đông của Mã Trung cũng đánh bại Chu Bảo, giải  quyết cơ bản cuộc bạo loạn ở hai phía Đông và Tây. Gia Cát Lượng chỉ huy cả ba cánh quân thừa thắng truy kích, thọc thẳng vào hang phản loạn của Ung Khải  ở Ích Châu.
Tháng 5, đạo quân của Gia Cát Lượng hành quân qua vùng rừng núi hiểm trở, vượt qua sông Kim Sa, đến gần được quận Ích Châu. Lúc đó Ung Khải đã bị thuộc hạ của Cao Định giết chết. Mạnh Hoạch thế chân Ung Khải làm thủ lĩnh quân phản loạn. Nhận thấy uy tín và ảnh hưởng sâu rộng của Mạnh Hoạch ở vùng Nam Trung, vì muốn giải quyết thật tốt mối quan hệ giữa các dân tộc thiểu  số vùng này với triều đình Thục Hán, với mục đích tạo được sự ổn định lâu dài và chắc chắn cho vùng Nam Trung, nên Gia Cát Lượng quyết định đánh vào lòng người của Mạnh Hoạch, coi đó là chiến thuật chủ đạo. Gia Cát Lượng hạ lệnh đánh nhau với Mạnh Hoạch, quân Thục chỉ được phép bắt sống, không được giết chết hoặc làm bị thương.
Trận đầu giao tranh, quả nhiên Mạnh Hoạch bị bắt sống, Gia Cát Lượng không giết, không làm nhục mà còn khoản đãi, nhằm làm cho Mạnh Hoạch chịu hàng phục.
Gia Cát Lượng tha cho Mạnh Hoạch về. Mạnh Hoạch tập hợp lực lượng giao tranh lần nữa, nhưng vẫn thua và bị quân Thục bắt sống. Lần này, Mạnh Hoạch vẫn chưa chịu phục. Gia Cát Lượng lại thả ông ta ra, cứ như vậy lặp đi lặp lại đến 7 lần. Cuối cùng, Mạnh Hoạch nhận thấy Gia Cát Lượng quả thật là con người mưu lược phi thường, và trong thâm tâm không có ý định thù địch với mình nên đã chịu phục. Sau khi Mạnh Hoạch chịu thần phục thì các thế lực phản loạn ở miền Nam cũng nhanh chóng lần lượt quy hàng.
Sau khi ổn định được khu vực Tây Nam, Gia Cát Lượng bắt đầu suy tính đến kế hoạch Bắc phạt Tào Nguy, hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước Trung Quốc, đó cũng là ý tướng ấp ủ từ lâu của Gia Cát Lượng. Mùa xuân năm 228, Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn đại quân xuất phát từ Hán Trung đi về  hướng Bắc để chinh phạt Nguỵ. Gia Cát Lượng quyết định xuất quân ở Kỳ Sơn, trận đầu đánh chiếm Lũng Hữu (nay thuộc Cam Túc), trận tiếp theo sẽ đánh chiếm Quan Trung, đánh chắc thắng chắc. Ông cho loan tin đại quân Gia Cát Lượng sắp sửa theo hướng hẻm Tà Cốc để đánh vào Mỹ Thành; cử Triệu Vân, Đặng Ngải đem một bộ phận binh lực đi chiếm Kỳ Cốc (nay thuộc địa bàn huyện Thái Bạch, tỉnh Thiểm Tây) và làm ra vẻ như muốn đi theo đường Tà Cốc để tiến lên phía Bắc, nhằm thu hút sự chú ý của quân Tào, trong khi đó Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực tiến theo đường Kỳ Sơn về hướng Tây Bắc.
Quân Tào ở nước Nguỵ không thể ngờ rằng Thục Hán nhỏ bé lại dám đánh Ngụy, nên ở phía Lũng Hữu không hề bố trí quân đội phòng ngự. Quân Thục qua nhiều năm được Gia Cát Lượng dày công huấn luyện đã trở thành một đạo quân hùng hậu dũng mãnh, hiệu lệnh rất nghiêm minh, xuất quân từ Kỳ Sơn, như thế chẻ tre, nhanh chóng chiếm được ba quận đường đất Lũng Hữu là Thiên Thuỷ, An Nam, An Định, dụ hàng được danh tướng Ngụy là Khương  Duy, gây xôn xao cả một miền Quang Trung. Ngụy Minh Đế Tào Duệ nghe tin  thất kinh, lập tức sai tướng Tào Chân đem quân đi chi viện cho My Thành, nhằm ngăn chặn Triệu Vân, lại sai tướng Trương Hợp dẫn 50.000 kỵ binh và bộ binh  tiến nhanh đến Nhai Đình, vòng đằng sau đánh tập hậu vào quân Thục, hòng chiếm lại Lũng Hữu. Tào Duệ cũng tự mình đến Tràng An để chỉ huy tác chiến.
Gia Cát Lượng đang có ý đánh chiếm hai quận Quảng Ngụy và Lũng Tây để chiếm trọn cả vùng Lũng Hữu, bỗng nghe tin đại quân của Trương Hợp đang vòng đánh từ hướng Tây. Nhằm đảm bảo an toàn hai bên sườn, để phát triển cuộc tấn công, Gia Cát Lượng lập tức hạ lệnh cho tiên phong Mã Tốc đem tiền quân đánh gấp, lấy Nhai Đình. Nhai Đình nằm ở khoảng giữa sông Vị và núi Mạch Tích – đó chính là con đường huyết mạch để đi từ Thiểm vào Lũng. Trước khi đi, Gia Cát Lượng năm lần bảy lượt dặn dò Mã Tốc hãy cẩn trọng. Không ngờ Mã Tốc tự cho mình là thông minh, dám vi phạm phương án bố trí của Gia Cát Lượng, đưa đến hậu quả Nhai Đình bị thất thủ, làm cho Gia Cát Lượng mất  bàn đạp tấn công, lỡ mất cơ hội đánh chiếm Lũng Hữu. Xét tình hình thực tế, Gia Cát Lượng cho rằng quân Thục không thể tiếp tục giao chiến được nữa, ông quyết định thu quân trở về Hán Trung.
Sau khi về đến Hán Trung để giữ nghiêm kỷ luật, Gia Cát Lượng, cho chém Mã Tốc, đồng thời viết tờ tấu dâng lên Lưu Thiền xin hạ tước vị của mình xuống ba bậc, và công bố sai lầm của bản thân mình cho cả nước được biết, làm gương cho mọi người tự vạch khuyết điểm của mình.
Tháng 12 năm đó, nhân cơ hội Lục Tốn ở Đông Ngô đánh bại quân Tào Hữu ở Thạch Bình (nay thuộc vùng Đông Bắc Tiềm Sơn, tỉnh An Huy); quân chủ lực phải chi viện cho mặt trận phía Đông; vùng Quang Trung tương đối trống vắng, Gia Cát Lượng liền tổ chức cuộc Bắc phạt lần thứ hai. Quân Thục đi qua Tán Quan (nay thuộc vùng Tây Nam Bảo Kê - Thiểm Tây) hành quân đến Trần Thương (nay ở phía Đông Bảo Kê). Địa thế ở Trần Thương vô cùng hiểm trở, dễ giữ khó đánh, được coi là nơi các nhà quân sự phải chiếm bằng được. Trước đó Tào Chân đã cho Hách Chiêu tăng cường phòng bị. Gia Cát Lượng chỉ  huy quân đội đánh ròng rã hai mươi ngày mà không suy suyển, lại thêm lương thảo quân Thục dần cạn kiệt. Về phía quân Ngụy thì đại tướng Trương Hợp dẫn viện binh vừa đến, do đó Gia Cát Lượng chủ động dỡ bỏ vòng vây.
Mùa xuân năm 229, Gia Cát Lượng phát động chiến dịch Bắc phạt lần thứ ba, trận đầu chiếm được hai quận là Vũ Đô (thủ phủ ở vùng phía Tây Bắc, huyện Thành, tỉnh Cam Túc) và quận Dương Bình (Thủ Phủ ở phía Tây Bắc, huyện Văn, tỉnh Cam Túc) thuộc đất Lũng Hữu, sau đó thừa thế thu quân. Do lập công trong chiến dịch chiếm hai quận này, nên Lưu Thiền đã phục chức Thừa tướng cho Gia Cát Lượng.
Tháng 2.231, Gia Cát Lượng lại thống lĩnh đại binh xuất quân từ Kỳ Sơn, tiến hành cuộc Bắc phạt lần thứ tư. Mục tiêu lần này vẫn là chiếm đất Lũng Hữu, nhưng tiền đồn để xuất quân đẩy lên Vũ Đô, Bình Dương. Ông phái một cánh quân vây khốn Kỳ Sơn và tự mình chỉ huy chủ lực chuẩn bị giao tranh một trận sống mái với cánh quân tăng viện của nước Nguỵ. Lúc này, người thống soái quân Ngụy được đã chuyển sang cho vị tướng tài ba giỏi dùng binh pháp là Tư Mã Ý. Tư Mã Ý nghĩ rằng quân Thục lương thảo ít, dễ đánh lâu dài, nên dựa  vào thế đất hiểm yếu để cố thủ, không chịu ra đánh. Gia Cát Lượng chờ mãi không được, đành dẫn quân rút lui về phía Kỳ Sơn, nhằm lôi kéo quân Ngụy ra ngoài để đánh. Tư Mã Ý cho quân đuổi theo rất thận trọng, khi quân Thục dừng lại, họ cũng dừng lại không đuổi nữa, tuy nhiên họ chỉ cắm trại cố thủ.
Đến tháng 6 do trời mưa to hết ngày này sang ngày khác, việc vận lương thực rất khó khăn. Tướng phụ trách việc vận lượng là Lý Nghiêm giả mạo chiếu thiên tử lệnh cho Gia Cát Lượng lui binh. Gia Cát Lượng đành chấp nhận rút quân, trên đường rút lui còn gài bẫy, chém được danh tướng nước Ngụy dẫn quân đuổi theo là Trương Hợp.
Mùa xuân năm 234, sau mấy năm chuẩn bị, Gia Cát Lượng lại dẫn 100.000 đại binh tiến theo đường Tà Cốc, mở đầu cuộc chiến tranh Bắc phạt lần thứ năm, mặt khác sai sứ thần sang hẹn với Tôn Quyền cùng tấn công. Tháng 4, quân Thục hành quân đến huyện My. Lúc này, quân Ngụy do Tư Mã Ý thống lĩnh đã đến bờ Nam sông Vị Thuỷ. Tư Mã Ý đã khai thác thế yếu của quân Thục mới hành quân từ xa, đến, vận chuyển lương thực khó khăn, quyết định thủ để  công, nhờ yếu tố thời gian làm cho quân Thục phải tan rã.
Quân Nguỵ kiên quyết cố thủ không đánh, đã đưa Gia Cát Lượng vào tình thế giằng co, không thể tiến triển được.
Tháng 7, đội quân do Tôn Quyền chỉ huy sang đánh Ngụy lại bị thất bại lui về Giang Đông. Tháng 8, do vất vả mệt nhọc lâu ngày mà sinh bệnh, Gia Cát Lượng không may ốm chết trong doanh trại Ngũ Trượng Nguyên, chỉ thọ 54  tuổi.
Theo đánh giá chung, cuộc đời binh nghiệp của Gia Cát Lượng rất phong phú, đa dạng. Ông đã để lại di sản quy báu về tư liệu, kiến thức quân sự cho đời sau. Ông kiên trì dùng quân pháp để xây dựng và chỉ huy quân đội. Ông cho rằng thưởng phạt nghiêm minh, giữ nghiêm kỉ luật là yếu tố tạo ra sức mạnh. Nếu kỷ luật không nghiêm, thưởng phạt không phân minh, thì cho dù quân đông đến hàng trăm vạn cũng không thể chiến thắng được kẻ thù. Gia Cát Lượng chú ý áp dụng những kỹ thuật sản xuất tiên tiến để phục vụ cho chiến tranh. Ông  phát minh và phổ biến ''con trâu gỗ'' (là loại xe đẩy bằng gỗ có bốn chân và một  bánh) xe ngựa (loại xe bằng gỗ, có người đẩy, bốn bánh) giải quyết được vấn đề vận tải lương thực ở miền núi. Khổng Minh rất coi trọng khâu cải tiến trang thiết bị, phát minh ra loại cung liên hoàn kiểu mới, một lần bắn được mười mũi tên,  đáng kể là bát trận đồ của ông còn gọi là ''bát trận pháp'', được người đời sau rất coi trọng. Ngoài ra, Gia Cát Lượng còn để lại nhiều câu danh ngôn về bình luận quân sự. Ví dụ trong cuốn Binh yếu, ông nói: “Nguyên tắc dùng binh, trước hết  phải xác định mưu kế, sau đó quán triệt phương án thực hành. Cần tìm hiểu tình hình thiên thời, địa lợi, quan sát lòng người, thông thạo sử dụng vũ khí, vạch rõ nguyên tắc thưởng phạt, nghiên cứu sách lược của đối phương, xem xét địa thế  đường sá, nhận biết địa hình có lợi và bất lợi, phán đoán tương quan lực lượng đách - ta, hiểu rõ thời cơ tiến thoái, biết chọn đúng thời cơ tác chiến, làm tốt công tác chuẩn bị phòng ngự. Tăng cường sức mạnh, nâng cao bản lĩnh chiến sĩ, đúc rút bài học thắng bại, cân nhắc cái giá của sự sống và cái chết. Sau đó mới quyết định điều binh khiển tướng, cắt cử tướng lĩnh, nhằm tạo nên thế trận diệt  thù. Đó chính là yếu lĩnh cầm quân đánh giặc”.

Lincoln (1805 - 1865)

Người ta biết đến ông như một tấm gương sáng về sự vượt khó; một người đã cống hiến không biết mệt mỏi cho cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ và đặc biệt là đã đem lại sự vẹn toàn cho Liên bang Hoa Kỳ khi cuộc nội chiến Nam Bắc xảy ra. Với những thành quả đó, nhân dân Mỹ cũng như triệu triệu người trên thế giới đã tôn vinh ông là vị tổng thống vĩ đại nhất trong mọi thời đại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.


Ngày 12.2.1809 Abraham Lincoln - Tổng thống vĩ đại nhất của Hoa Kỳ đã cất tiếng khóc chào đời trong một căn nhà tồi tàn tại hạt Hardin, bang Kentucky. Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, bố làm thợ mộc, mẹ là một người phụ nữ thông minh nhưng do hoàn cảnh gia đình mà không được đi học. Chính những điều đó đã thôi thúc Abraham Lincoln ngay từ nhỏ đã chăm chỉ học hành và say mê đọc sách báo. Người ta kể rằng, ông đã đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần bộ Kinh thánh và những câu chuyện của Acsop (một tác gia La Mã cổ đại). Năm ông lên 9 tuổi mẹ ông đột ngột qua đời. Sự kiện này càng thôi thúc ông phấn đấu để tự lập cũng như giúp đỡ gia đình vượt qua cơn khốn khó.

Trước khi trở thành luật sư, chính khách và cuối cùng là ứng cử viên tổng thống của Hợp Chủng quốc Hoa Kỳ, Abraham Lincoln đã làm rất nhiều nghề khác nhau, và những công việc đó đã tạo nên những phẩm chất của một vĩ nhân của nước Mỹ sau này.
Năm 1830, Lincoln thoát ly gia đình đến New Salem làm nhân viên phục vụ trong một cửa hàng tổng hợp, lúc đó Abraham Lincoln vừa tròn 21 tuổi. Hai năm sau, năm 1832, theo lời kêu gọi của thống đốc bang, Lincoln gia nhập quân ngũ và nhanh chóng trở thành chỉ huy của đội quân tình nguyện này. Năm 1833, ông được đích thân tổng thống Andrew Johnson bổ nhiệm làm giám đốc bưu điện New Salem, bang Illinois và một năm sau ông trở thành thành viên của cơ quan lập pháp bang Illinois. Sau khi lập gia đình vào năm 1842 với Mary Todd con gái của một gia đình quyền quý, Lincoln có điều kiện hơn để tiếp tục phấn đấu cho những mục tiêu trên con đường chính trị của mình.
Khi trở thành hạ nghị sĩ năm 1845 với khẩu hiệu đấu tranh xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã tham gia vận động tranh cử tổng thống. Từ những nỗ lực không ngừng đó ông được bầu là ứng cử viên chức thượng nghị sĩ tại Đại hội của Đảng Cộng hoà tổ chức ở bang Illinois. Ngày 17.6.1858 Lincoln đã đọc một bài diễn văn nổi tiếng trong đó ông lên án mạnh mẽ và kêu gọi xoá bỏ vĩnh viễn chế độ nô lệ.
Sau những cố gắng không mệt mỏi trong cuộc đấu tranh đòi xoá bỏ chế độ nô lệ ông đã đắc cử tổng thống nhiệm kỳ 1861 - 1864. Mặc dù không phải là người đầu tiên xoá bỏ chế độ nô lệ, bởi vì trước khi ông lên nắm quyền, có nhiều quốc gia đã tiến hành xoá bỏ chế độ này và đạt được kết quả tốt, nhưng Lincoln vẫn tạo được tiếng vang lớn vì ông đã phát động được phong trào này một cách mạnh mẽ ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên điểm nhấn trong sự nghiệp của lãnh đạo đất nước của ông - thể hiện tài năng chính trị siêu việt của ông chính là việc ông đã lãnh đạo đất nước thành công trong việc chống lại âm mưu ly khai một số bang phía Nam khỏi liên bang Hoa Kỳ.
Cuộc nội chiến giữa các bang miền Bắc và các bang miền Nam Hoa Kỳ mà lịch sử vẫn gọi là cuộc chiến tranh ly khai kéo dài 4 năm (1861 - 1865). Trong cuộc nội chiến này, nhờ có những chính sách tiến bộ của Linconl như cấp đất ở miền Tây cho những người di cư, xoá bỏ chế độ nô lệ da đen, nên quân đội miền Bắc đã đánh thắng quân đội miền Nam, hợp nhất hai miền.
Trong giai đoạn đầu của cuộc nội chiến Nam Bắc, Lincoln đã từng bị chỉ trích khi không nhanh chóng đàn áp được các cuộc nổi dậy ở phía Nam. Ngày 1.1.1963, Linconl đưa ra Tuyên bố giải phóng (Công ước tự do), trả tự do cho tất cả nô lệ Mỹ, nhưng những người Mỹ ở miền Nam không tuân theo đạo luật này cho đến khi họ thua trận. Tuyên bố này của Lincoln đã xoá đi những cách biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị, kinh tế, xã hội... giữa miền Nam và miền Bắc.
Sau cuộc chiến Gettysburg khốc liệt, Lincoln đã có một bài diễn văn ca ngợi những người lính tử trận, những người mà theo ông đã cống hiến cả cuộc đời mình cho chính phủ, cho nhân dân và vì hoà bình, độc lập và tự do. Sự hy sinh đó phải được đền đáp và chính phủ do nhân dân gây dựng và giữ gìn sẽ không bao giờ mất đi trên đất nước này.
Có thể nói sự nghiệp của Lincoln có ảnh hưởng sâu sắc tới xã hội Mỹ và là tấm gương cho hàng triệu người trên thế giới. Năm 1864, được sự tín nhiệm của nhân dân ông đã tái đắc cử nhiệm kỳ 2 (1864 - 1868). Ông đã đề ra một kế hoạch hàn gắn vết thương chiến tranh và khôi phục kinh tế thời hậu chiến. Nhưng kế hoạch còn đang dang dở thì ngày 14.4.1865, trong một buổi dạ hội long trọng tại thủ đô Washington, ông đã bị những kẻ cuồng tín ở miền Nam ám sát, để lại sự tiếc thương vô hạn trong lòng nhân dân Mỹ cũng như nhân loại tiến bộ trên toàn thế giới.
Trong hai cuộc bầu chọn về thứ bậc và ảnh hưởng của các tổng thống Hoa Kỳ, Lincoln đều xếp thứ nhất trên cả Washington - tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ và đứng đầu danh sách năm tổng thống vĩ đại nhất của nước Mỹ. Điều này cho thấy vai trò, vị trí và tầm ảnh hưởng của Lincoln đối với lịch sử nước Mỹ là vô cùng to lớn. Ông là một vị tướng tài ba, một nhà chính trị xuất sắc, nhưng trên hơn cả là tấm lòng của ông đối với nhân dân lao động và tầng lớp bình dân nước Mỹ. 

Bill Gates - Ông hoàng công nghệ thông tin

Bill Gates - Ông hoàng công nghệ thông tin
Bill Gates sinh ra trong một gia đình trí thức: cha là một luật sư và rất chú ý bồi dưỡng trí tuệ cho Bill Gates từ khi ông còn nhỏ.
Bill Gates là một đứa trẻ hoạt bát, hiếu động. Sau khi sinh Bill, mẹ ông đã bỏ nghề giáo viên để chuyên tâm ở nhà chăm sóc gia đình và dạy dỗ con cái. Cha Bill rất bận rộn nên mẹ thường xuyên phải ở bên và chịu trách nhiệm dạy Bill học.

Mỗi người lớn trong gia đình đều rất chú trọng việc bồi dưỡng trí tuệ cho Bill bởi họ biết rằng: thế giới trong tương lai sẽ là một thế giới tràn đầy sự cạnh tranh tri thức và trong thế giới ấy tố chất tư duy chính là chìa khoá quan trọng nhất. Mỗi lần lên phố mua sắm, ông ngoại đều qua hiệu sách và mua về mấy quyển sách cho Bill đọc. Ông ngoại còn hướng dẫn Bill chơi các trò chơi trí tuệ, đặc biệt là những trò luyện năng lực phản xạ và sự tập trung. Nhờ vậy, Bill từ bé đã là một đứa trẻ thích động não và có cách thức tư duy khác hẳn những đứa trẻ bình thường. Ở lớp, Bill tuy hơi hiếu động nhưng việc học tập không có chỗ nào có thể chê trách. Cậu luôn là học sinh chăm chú nghe giảng nhất trong mỗi giờ học trên lớp.
Bill rất thích đọc sách. Những sách cậu đọc không phải là các loại thiếu nhi ưa thích như truyện tranh, cổ tích mà là những sách cung cấp nhiều kiến thức về văn hoá, khoa học, xã hội. Năm Bill 7 tuổi, mẹ tặng cậu một bộ sách “Bách khoa toàn thư thế giới”. Và từ đó, Bill thường ngồi lì hàng giờ liền bên bàn học để đọc sách với một thái độ chăm chú và miệt mài.
Cha của Bill cũng cố tạo thật nhiều cơ hội cho cậu rèn luyện trí tuệ và sức khoẻ. Năm Bill lên 9 tuổi, cha đăng ký cho cậu tham gia một cuộc dã ngoại của thiếu nhi. Buổi dã ngoại ấy là một trong những kỷ niệm khó quên của tuổi thơ Bill.
Lên trung học, Bill bắt đầu tiếp xúc với máy tính. Ngay lần đầu tiên, Bill đã cảm thấy những chiếc máy tính có một sức hấp dẫn kỳ lạ đối với mình. Tốt nghiệp cấp II những kiến thức máy tính mà Bill học được (phần lớn là tự học) đủ để cậu viết một chương trình phần mềm vô cùng phức tạp cho một công ty viễn thông.
Mùa xuân năm 1973, Bill Gates thi dỗ đại học Havard. Vào đại học, Bill dành phần lớn thời gian cho máy tính, cả ngày chỉ ngồi lì bên bàn phím để viết chương trình. Trong thời gian học đại học, Bill đã vài lần nói với cha mẹ rằng cậu muốn thôi học ở Havard để cùng bạn bè lập một công ty máy tính riêng. Tất nhiên, cha Bill kiên quyết phản đôi việc cậu thôi học, nhất là khi ngày lễ tốt nghiệp không còn cách bao lâu. Ông còn mời riêng một nhà doanh nghiệp nổi tiếng đến thuyết phục Bill bỏ ý định điên rồ đó. Nhưng nhà doanh nghiệp sau khi lắng nghe những tâm sự và dự định của Bill thì không những không phản đối mà còn động viên, khích lệ cậu.
Năm 1977, Bill rời khỏi Havard. Cậu muốn kế hoạch lớn lao của mình càng sớm thành hiện thực càng tốt.
Sau những năm 80 của thế kỷ XX, công ty máy tính IBM bắt đầu đi tìm đối tác. Chỉ sau năm phút nói chuyện với Bill, người của công ty IBM đã nhận thấy Bill chính là đối tác mà họ đang cần tìm. Từ đó trở đi, Bill Gates bắt đầu viết từng trang tuyệt vời cho cuốn sách cuộc đời mình.

Henry Ford ( 1863 - 1947)

Ông không phải là người giàu nhất nước Mỹ, nhưng khi bình chọn những nhà kinh doanh có ảnh hưởng sâu xa đến xã hội và lịch sử Mỹ ông lại là người đứng đầu. Có lẽ do sản phẩm của ông có mặt khắp nơi trên thế giới, có lẽ do ông đã tạo dựng được một sự nghiệp vẻ vang, có lẽ do phương pháp kinh doanh của ông có nhiều sáng tạo, hay quan điểm của ông về việc sử dụng nhân tài, vv...  và có lẽ còn nhiều điều để nói về ông - Henry Ford - Ông vua xe hơi của nước  Mỹ.


Henry Ford sinh ngày 30 tháng 7 năm 1863 trong một gia đình nông dân tại Dearborn, tổ tiên là người Ireland. Cha của Henry là Wilham Ford, ông là một người thợ mộc chuyên cần, còn bà mẹ Mary là người con gái nuôi của  trưởng kíp thợ mộc. Cha mẹ của Henry có tất cả sáu người con, Henry là con cả. Ngay từ lúc còn bé, Henry không thích cầm cây cuốc, cây thuổng để làm nông nghiệp, cũng không thích chăm sóc trại gà, vắt sữa bò, thậm chí, việc làm đó đã  ảnh hưởng đến thái độ của ông đối với thịt gà và sữa bò sau này.


Năm Henry 12 tuổi, người mẹ yêu quý của ông qua đời. Có thể nói tính cách kiên cường của mẹ đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc đời của Henry. Henry từng nói: “Tôi đã học được từ mẹ tôi phương pháp sinh tồn trong xã hội hiện đại...”. Henry rất hiếu kỳ, ông rất có hứng thú với những đồ vật có cấu tạo bên  trong là máy móc. Khi gặp những đồ vật như vậy ông rất muốn mở ra. Sở thích thậm chí đã khiến người trong nhà khi trông thấy Henry đi đâu trở về, thì vội vàng cất giấu ngay những đồ vật mới hoặc những máy móc trong nhà. Trong  ngăn kéo của chiếc tủ đầu giường được cất giữ một cách có ngăn nắp nào là máy khoan lỗ, giũa, búa, bu-lông, cưa, vít vặn, và những ốc vít. Điều làm cho mọi  người ngạc nhiên, là năm đó Henry chỉ mới 7 tuổi.

Thời thơ ấu Henry được công nhận là một đứa bé nghịch ngợm nhất trong làng. Chỉ có anh làm công dài hạn người di dân Đức là cho phép Henry mở tung chiếc đồng hồ đeo tay bằng vàng của mình ra, khiến Henry hết sức vui thích. Người này đã nhiệt tình giải thích tường tận cho Henry biết kết cấu và nguyên lý của chiếc đồng hồ đeo tay. Henry ngoài việc say mê đối với chiếc đồng hồ đeo tay, ông còn rất hứng thú đối với đầu máy xe lửa. Có lần ông theo cha tới thành phố Detroit. Tại một nhà ga xe lửa, Henry nhìn thấy đầu máy xe lửa. Đối với “con quái vật” này ông cảm thấy hết sức hứng thú, khiến cho người trưởng đoàn xe lửa có lòng tốt đã cho phép ông lên đầu xe lửa, và mở máy cho đầu xe chạy tới chạy lui, khiến lòng hiếu kỳ của Henry được hoàn toàn thỏa mãn. Henry vui thích ngồi trên chiếc ghế điều khiển, lại đưa tay kéo còi vang rền. Trong nhà bảo tàng Ford cho tới nay vẫn còn trưng bày hình ảnh đầu chiếc xe lửa chạy bằng máy hơi nước mà lúc còn nhỏ Henry Ford cảm thấy hết sức hứng thú. Trong cả cuộc đời Henry Ford không bao giờ quên hai người, người công nhân làm công dài hạn trong gia đình đã cho ông mở tung chiếc đồng hồ đeo tay của mình và viên trưởng xe lửa đã cho phép ông ngồi trên đầu máy xe lửa để chạy tới chạy lui. Sau khi trở về nhà, Henry bắt đầu chế tạo động cơ. Lúc ở trường ông chế tạo động cơ máy hơi nước nhỏ, và đã gây ra một sự cố khá nghiêm trọng. Đó là việc chiếc động cơ bằng máy hơi nước của ông bị nổ tung, khiến mảnh đồng, pha lê, sắt bay tung tóe, cắt đứt môi ông và làm bị tổn thương khá nặng trên đầu một người bạn. Sức nổ cũng làm cho hàng rào nhà trường bị sập, đối với việc này Henry không hề tỏ ra thất vọng. Đó là kinh nghiệm đầu tiên của ông đối với việc chế tạo động cơ. Cho dù có gặp trắc trở nhưng đối với cậu bé vừa lên 7 tuổi, Henry đã nổi tiếng khắp cả làng là một thiên tài bé nhỏ.

Năm 1789, Henry Ford bỏ nhà ra đi để tìm kiếm tương lai cho mình. Henry đến thành phố Detroit, vào làm thợ học việc tại xưởng xe Michigan, với tiền công 1,1 USD/ngày. Với số tiền lương đó kể là tương đối cao trong thời bấy giờ. Nhưng, Henry chỉ làm được có sáu ngày thì bị đuổi. Nguyên nhân là do Henry sửa chữa những cổ máy hư một cách quá dể dàng mà những người thợ lâu năm cũng không thể sửa chữa được nhanh như thế được. Điều đó làm cho những người thợ ở đây bất mãn. Nhưng Henry vẫn không nản lòng, trái lại, đã rút được một bài học qua sự kiện đó: “Bất luận làm việc gì đều không thể phơi bày hết những điều mình hiểu biết ra cho mọi người thấy!”.

Sau đó, Henry lại lần lượt đến xưởng đồ đồng và xưởng đóng tàu tại Detroit để làm việc. Ở nơi nào ông cũng cảm thấy mình không học thêm được gì, nên đã xin thôi việc. Cuối cùng, Henry trở về nông trại của cha để phụ một tay với cha mình. Việc xin từ chức của Henry Ford lần này là một bước ngoặt trong cuộc đời của ông. Ông trở về nhà không phải vì lẽ không học được gì ở Detroit, mà là có một nguyên nhân khác. Lúc bấy giờ thời tiết đã vào đông, cả vùng Dearborn cũng đã phủ đầy tuyết trắng. Tất cả những việc nhà nông đều phải tạm ngừng. Henry muốn nhân lúc nông nhàn, ở yên trong nhà để tiến hành một số nghiên cứu mới. Do vậy, việc ông trở về nhà chính là do lòng “ham muốn phát minh” đã thúc đẩy. Sau khi về nhà không bao lâu, Henry đến một xưởng xẻ gỗ ở trong làng để giúp cho người chủ xưởng là John chạy thử một chiếc động cơ hơi nước theo kiểu di động. Về sau, hãng sản xuất động cơ này đã mời Henry đến làm thao tác viên kiểu mẫu cho loại động cơ di động của họ. Nhờ đó, Henry đã học được rất nhiều tri thức về động cơ hơi nước. Trong việc sửa chữa và cho chạy thử chiếc động cơ hơi nước, đã khiến Henry càng ham muốn hơn đối với việc nghiên cứu và phát minh.

Henry đã nhặt lại chiếc máy cắt cỏ theo kiểu đẩy tay đã cũ kỹ của cha, ông  muốn đem sự hiểu biết về động cơ đã học được tại xưởng gỗ của John cải tạo nó thành một chiếc máy kéo dùng cho nông nghiệp. Ông tự nhốt mình trong một nhà kho để bắt đầu mày mò tìm hiểu, và liên tục chế ra những chiếc máy kéo do ông thiết kế. Một cỗ, hai cỗ, cho đến hai ba chục cỗ máy kéo đã được ông chế tạo. Trải qua suốt hai năm chăm chỉ và khó khăn, cuối cùng Henry đã chế tạo được một máy kéo hơi nước dùng nhiên liệu bằng củi. Henry cho rằng do ở  Dearborn than đá quá đắt đỏ, cho dù chế tạo được một động cơ hơi nước như loại động cơ hơi nước được trưng bày tại cuộc triển lãm vạn quốc năm 1876 có lò hơi nung bằng than đá, thì đối với nông dân ở đây cũng không giúp ích gì  được nhiều. Do vậy nên ông không thực hiện. Henry quyết tâm phát minh ra một loại máy kéo tiết kiệm nhiên liệu. Rõ ràng nơi đây đã tạo nên một tư tưởng kinh doanh của Henry Ford: Có thể tư tưởng đó chính là nguyên tắc tư tưởng đã  tạo ra loại xe “kiểu T” (Ford Model T) của công ty xe hơi Ford sau này.
Ngày 11 tháng 4 năm 1888, Henry lập gia đình, vợ ông - Clara là một người thông minh lanh lợi, đã chủ động gánh vác tất cả công việc trong gia đình sau khi thành hôn. Một điều quan trọng hơn đó là, đối với lý tưởng và sự phấn  đấu cho sự nghiệp của chồng, nàng có một sự lý giải và tín nhiệm hoàn toàn, hơn nữa, còn cùng chồng đồng cam cộng khổ, trở thành một trợ thủ đắc lực của Henry Ford.
- Clara ơi, mau lấy giấy lại đây!

Một buổi tối cuối tuần, Henry bỗng gọi to lên như phát điên. Lúc bấy giờ Clara đang ngồi trước cây phong cầm tại phòng khách. Sau khi nghe tiếng gọi, nàng liền chụp lấy tờ nhạc phổ chạy đến trao cho Henry. Phía sau lưng nhạc phổ  là giấy trắng. Henry sau khi chụp được tờ nhạc phổ liền dùng bút vẽ nguệch ngoạc một động cơ đất trong ông phấn khởi nói lớn như một đứa trẻ: “Chính là nó đây! Clara ơi! Đây chính là cấu tạo của chiếc xe hơi mà anh đang thiết kế”. Đúng vậy, “đó là tuyên ngôn” về việc chế tạo xe hơi của Henry Ford.

Đối với Clara, mọi việc phát hiện đã vượt ra ngoài sức tưởng tượng của nàng. Sau khi thành hôn được ba tháng, Henry quả quyết mang người vợ trẻ rời  bỏ nông trại, đến làm kỹ sư cơ khí cho công ty Edison đang chuẩn bị cho việc chiếu sáng và nguồn điện lực của thành phố Detroit. Quyết định đó gần như làm cho Clara phát khóc. Nhưng có lẽ qua tinh thần trách nhiệm tiềm tàng đã giúp  cho Clara nhận định được chúng mình nhất định sẽ thành công trong việc chế  tạo động cơ đốt trong.
Năm 1892, Charless Edgar Duryea phát minh ra chiếc xe hơi đầu tiên tại nước Mỹ, làm chấn động cả vùng Tân Thế Giới. Hemy đã bị thành tựu lừng lẫy của ông ta hấp dẫn, khiến trong lòng có một sự háo kỳ rất mãnh liệt, quyết định lập tức bắt tay vào việc nghiên cứu để chế tạo chiếc xe hơi của mình. Lúc bấy giờ Henry ở trong một ngôi nhà hai tầng tại Detroit. Đó là một ngôi nhà mà hai nhà cùng ở chung. Phía sau ngôi nhà này có một khoảng đất trống dùng làm kho chứa than đá và củi. Chính trong cái kho chứa than đá đó, Henry đã trải qua nửa  năm nghiên cứu thí nghiệm, để vào lúc 2 giờ sáng tháng 6 năm 1896, ông đã vặn  bu-lông cuối cùng vào cỗ xe hơi đầu tiên của mình.

Chiếc xe hơi đầu tiên của Henry Ford là một chiếc xe được gắn động cơ bốn thì, có hai tốc độ: một tốc độ 10 dặm Anh (khoảng 16 km) và 20 dặm Anh (khoảng 32 km), không có phanh, cân nặng khoảng 500 Pound (khoảng 227 kg), có thể xem là một chiếc xe nhẹ nhàng tiện lợi nhất trong thời bấy giờ. Một điều tương đối bất tiện là không có bộ phận chạy lùi, nên chiếc xe khi cần trở đầu phải nhờ hai hoặc ba người khiêng nó lên quay về một hướng khác.

Theo một số ý kiến của bạn bè và một số nhà tài trợ, ngày 5 tháng 8 năm 1899, Henry 36 tuổi đã xin từ chức ở công ty phát điện của Edison, để cùng một số người tâm huyết như ông thị trưởng thành phố và một thương gia ngành gỗ cùng hợp tác, thành lập công ty xe hơi Detroit (Detroit Automobile Company). Henry được mời làm tổng công trình sư. Nhờ thế lực chính trị của ông thị trưởng, bưu cục Detroit đã sử dụng bốn chiếc xe hơi của công ty xe hơi Detroit để chở bưu kiện. Đó là số hàng bán ra đầu tiên của công ty. Nhưng, do chưa có kinh nghiệm chế tạo thương phẩm. Trong quá trình chế tạo còn rất nhiều sai sót như những phụ tùng bán lẻ ra ngoài không hợp kích thước, việc giao hàng chậm  trễ. Ngoài ra, do sử dụng những người công nhân trước đây chuyên làm xe ngựa  nên phẩm chất của những chiếc xe hơi rất thấp kém, việc làm còn thô sơ tuỳ  tiện, do vậy, đến ngày giao xe mà vẫn chưa có hàng để giao. Công ty xe hơi Detroit cũng do giữa những người hợp tác có sự bất hoà, nên qua năm sau thì  đóng cửa.

Mùa hè năm 1902, Henry Ford tái thành lập công ty. Năm 1903, công ty của họ đổi tên là Công ty xe hơi Ford. Ford trông nom việc chế tạo còn người hợp tác kia thì lo tiêu thụ xe thành phẩm. Ford đã thuê mười hai người giàu kinh nghiệm đóng xe ngựa vận tải hàng. Việc thiết kế xe hơi do đích thân Ford tiến hành, đồng thời, áp dụng phương thức sản xuất với một số lượng lớn. Sau khi hoàn thành việc thử nghiệm động cơ xe hơi, cũng như việc lắp đặt động cơ và  những hệ thống lắp đặt động cơ và những hệ thống làm việc khác, công ty xe  hơi Ford đã sản xuất được chiếc xe theo kiểu A đầu tiên.

Từ thu đông năm 1903 đến mùa xuân năm 1904, công ty xe hơi Ford tổng cộng đã sản xuất được 650 chiếc xe kiểu A. Trong vòng sáu tháng đã bán ra được 1700 chiếc xe, đồng thời, tăng cường phục vụ hậu mãi. Hơn nữa, ông còn dự định thuê một khu đất trống để xây dựng một công xưởng có quy mô lớn gấp mười lần công xưởng hiện tại. Tại công xưởng này, ông sẽ sản xuất các loại xe bắt đầu từ loại A, theo thứ tự vần tiếng Anh để lần lượt cho ra đời các kiểu xe A, B, C, F, v.v. Trước sau như một, Henry luôn luôn kiên trì sản xuất loại xe đại  chúng giá rẻ, có tính năng ưu việt.

Kể từ năm 1903, khi Henry bắt đầu sản xuất loại xe kiểu A, trước sau  trong vòng năm năm, ông đã theo thứ tự của chữ cái A, B, C, F, K, N, R, S, và  đã sản xuất tổng cộng tám kiểu xe hơi. Trải qua những sự cải tiến không ngừng, cũng như sự thiết kế ngày càng đa dạng hoá. Máy xe từ hai xilanh tăng lên thành  sáu xilanh; động lực của máy xe từ tám sức ngựa tăng lên thành 40 sức ngựa; ngoại hình từ chỗ xe có mui phát triển lên thành không mui. Có thể nói trước khi Henry đặt một tụ bài lớn nhất trong cuộc đời của mình, đã âm thầm mò mẫm suất năm năm.

Việc tổ chức công ty xe hơi lần đầu bị thất bại đã khiến cho Henry ý thức được một cách tỉnh táo: Muốn đạt được thành công, thì phải bắt tay cả từ bên  trong lẫn bên ngoài. Đồng thời, phải phân biệt giữa người sở hữu xí nghiệp là người quản lý.

Do vậy, khi Henry thành lập công ty xe hơi Ford lần thứ ba, thì việc trước tiên được ông quan tâm là việc chọn lựa nhân tài. Ông đã sáng suốt mời James Joseph Couzens là một chuyên gia về mặt quản lý giữ vai trò giám đốc của công ty. Riêng kế hoạch tiêu thụ xe kiểu T do Henry và Couzens đích thân phụ trách. Tháng 3 năm 1908, ông đã tiến hành theo phương thức đặt hàng bí mật. Henry đã bí mật cho Italia danh mục thương phẩm xe hơi kiểu T mà không cho ai biết, ảnh chụp xe hơi kiểu T cũng được bí mật gửi qua đường bưu điện tới các đại lý phân phối xe hơi của công ty Ford. Tiến hành kiểu tiêu thụ này là do một người cùng tuổi với Ford là Richard, lúc bấy giờ vẫn chưa được phổ cập, kể cả trong ngành tiêu thụ xe hơi. Do vậy, khi những nhà buôn xe hơi nhận được phong bì gửi theo bưu điện tới thì cảm thấy không hiểu ra sao. Chờ khi họ mở phong bì ra xem mục lục thương phẩm, sách thuyết minh và giá cả ở bên trong thì mới hiểu  ra, và đều tán thành cách suy nghĩ kỳ diệu hiếm có đó.

Trong quảng cáo xe hơi kiểu T là loại xe nằm giữa kiểu xe có mui và kiểu xe mui trần, so với hai kiểu xe R và S chưa tiêu thụ hết thì nó mới mẻ hơn. Nó có mấy đặc trưng nổi bật là dùng loại hợp kim vừa nhẹ vừa rắn chắc để chế tạo.dj Hai là bốn xilanh của nó đều có phần đỡ bằng thép có hình quả trám nhỏ, khiến cho thể tích của động cơ nhỏ hơn. Thứ ba là hộp số đều nằm kín trong xe, chứ không để lộ ra ngoài như trước. Thứ tư là tay lái được đặt ở bên trái, khác hơn  các loại xe hơi sản xuất ở Châu Âu tay lái được đặt ở bên phải.

Một điều làm cho mọi người khó tin là, giá bán cho các nhà tiêu thụ của Ford chỉ có 825 USD. Sau khi biết được sự phấn khởi của các nhà tiêu thụ xe hơi cho mình, Ford hoàn toàn không còn do dự, quyết định tiến hành sản xuất và định rõ ngày giờ đưa loại xe mới này ra thị trường. Ngày 1 tháng 10 năm 1908, Henry Ford mở màn một chiến dịch tuyên truyền cho loại xe mới. Việc tuyên  truyền của ông rất đột ngột, làm cho mọi người đều giật mình, và đó cũng là một cách tuyên truyền chưa từng có trong lịch sử. Ngoài việc báo chí đăng tải những  bài giới thiệu, Ford còn dùng cách gửi tài liệu tuyên truyền quảng cáo theo đường bưu điện đến các khách hàng với một quy mô chưa từng có, làm cho người nghĩ ra cách tuyên truyền này là Richard cũng phải thán phục, chịu thua. Nhưng, Henry vẫn chưa hài lòng về hiệu quả quảng cáo theo đường bưu điện, ông còn thông qua phương thức dùng điện tín và điện thoại, trực tiếp thông tin tới những người tiêu thụ.

Chỉ trong thời gian một năm, xe hơi kiểu T đã tiêu thụ được đến 6000 chiếc, lập một kỷ lục chưa từng có trong lịch sử, thu được lãi ròng so với tổng số tiền tiêu thụ trong vòng 5 năm còn cao hơn 2 triệu USD. Đó là một trang huy hoàng được Henry Ford viết trong cuộc sống của mình. Ngày 31 tháng 3 năm 1909, cũng tức là thời gian sáu tháng sau khi tiêu thụ loại xe kiểu T, Henry Ford lại xuống lệnh thay đổi màu sắc và ngoại hình của loại xe này. Ông căn cứ vào mục đích sử dụng để sơn xe thành ba màu khác nhau: màu đỏ đầy sức sống để  dành cho những người du lịch, màu xám giản dị để cho những khách hàng dùng xe làm chân và màu xanh lá cây sang trọng để dùng cho những người giàu có. Ở trước đầu xe nơi thùng nước toả nhiệt, ông cho gắn một thương hiệu “FORD”. Thương hiệu này được thiết kế rất bắt mắt, đứng cách xa nửa dặm Anh (khoảng  800 mét) cũng có thể nhìn thấy rõ ràng. Đồng thời, nó cũng có hiệu quả về mặt mỹ quan, khiến khách hàng rất ưa thích. Thế là hàng nghìn đơn đặt hàng được gửi tới, làm cho Henry phải nghĩ tới việc ứng phó với yêu cầu mới. Rõ ràng là chỉ có nâng cao năng lực sản xuất thì mới có thể đáp ứng được nhu cầu hiện nay. Trong quá trình sản xuất xe hơi, Henry cho rằng nếu muốn tiến hành sản xuất lớn, thì việc đầu tiên là phải thực hiện việc sản xuất xe hơi tiêu chuẩn hoá, quy cách hoá. Tức là cần phải làm cho tất cả các linh kiện có tính năng thông dụng, tức sản phẩm bất kỳ về mặt ngoại hình, lớn nhỏ, màu sắc, đều phải hoàn toàn giống nhau. Như vậy, khi sản xuất trên dây chuyền chuyển động thì mới khỏi mất thời giờ do linh kiện lớn nhỏ khác nhau gây ra, như vậy cung giúp cho khách hàng đễ bảo dưỡng chiếc xe hơn.

Trên cơ sở tiêu chuẩn hoá sản phẩm, loại xe kiểu T của Henry Ford đã cho sản xuất theo phương thức dây chuyền, để có thể thực hiện được mục tiêu sản xuất lớn. Do vậy, ông đã mời một thiết kế sư được mọi người xem là “thiên tài cơ giới hoá” tên gọi Frandes. Người này là đại công thần trong việc đưa nước Mỹ tiến vào chế độ sản xuất đại quy mô. Kế đó, Henry lại mua một khu đất rộng 60 mẫu Anh tại công viên Highland để xây dựng công xưởng. Ông mời một kiến trúc sư 37 tuổi để đảm nhiệm việc thiết kế. Trong công xưởng mới này được xây dựng một hệ thống sản xuất dây chuyền theo kiểu nghiêng từ trên cao xuống... Như vậy, thành phẩm sẽ từ trên cao tự động lăn xuống, người thợ không cần động tới”. Qua băng chuyền liên tục chuyển động đưa các linh kiện tới tay người thợ, giúp cho hiệu suất lao động tăng lên rất cao. Sau đó, cách sản xuất này lại được phát triển theo hệ thống dây chuyền nối tiếp. Tới giai đoạn này, các khâu muốn chậm hay nhanh đều có thể do băng chuyền khống chế. Như vậy, hệ thống lắp ráp xe hơi theo kiểu dây chuyền đầu tiên trên thế giới đã xuất hiện. Việc lắp  ráp một chiếc xe hơi từ 12 tiếng 28 phút, rút xuống còn 9 phút.

Phương thức sản xuất đó có một tác dụng rất to lớn đối với hiệu suất lao động cũng như việc hạ giá thành. Năm 1912, tức năm cuối cùng dùng phương thức sản xuất cũ, thì công ty xe hơi Ford đã sản xuất 32.388 chiếc, qua năm sau, khi áp dụng phương thức sản xuất dây chuyền, thì trong năm đó đã sản xuất  được 109.088 chiếc. Đến năm 1916, sau khi tiến lên một bước hoàn thiện hệ thống sản xuất dây chuyền, số lượng sản xuất tăng lên đến 585.388 chiếc.

Loại  xe hơi kiểu T ra đời vào năm 1908, đến năm 1927 thì không sản xuất nữa. Trong  vòng 19 năm đó, tổng cộng đã sản xuất được 150.007.033 chiếc, bình quân mỗi  năm sản xuất được 800.000 chiếc, đạt đến kỷ lục chưa từng có. Trong thời gian cao điểm, loại xe hơi kiểu T này chiếm tới 68% thị  trường trên toàn thế giới.

Cùng lúc đó, Henry vẫn trung thành với nguyên tắc nghề nghiệp của mình, là kiên trì sản xuất loại xe hơi đại chúng bán ra với giá thấp, nhưng tính năng lại ưu việt. Henry là người có tư tưởng kinh doanh độc đáo. Ông cho rằng, lãng phí và tham lợi nhuận là hai điều làm cản trở quyền lợi của người tiêu thụ. Lãng phí tức là trong quá trình sản xuất lãng phí thời gian nhiều và hao tổn sức lao động nhiều. Còn tham lợi nhuận là người có tầm nhìn quá ngắn. Ông cho  rằng: cần phải tiêu hao sức người và sức của ít nhất trong quá trình sản xuất, đồng thời, phải bán ra với số lợi nhuận thấp nhất, để đạt được số lượng tiêu thụ gia tăng, tức nguyên tắc “lãi ít nhưng tiêu thụ nhiều”. Do vậy, kể từ năm 1908 khi loại xe hơi kiểu T ra đời thì số lượng tiêu thụ ngày càng cao, trong khi giá bán ngày càng thấp. Từ giá 825 USD lúc ban đầu, đã hạ dần xuống còn 550 USD vào năm 1913, và đến năm 1916 thì giá bán chỉ còn 360 USD. Mục tiêu  cuối cùng của công ty Ford là giữ giá thành của xe hơi kiểu T ở mức thấp nhất:  260 USD. Đến năm 1920 thì công ty Ford đã dẫn đầu ngành sản xuất xe hơi. Chiến lược “lãi ít tiêu thụ nhiều” của Henry Ford cũng như phương thức sản xuất dây chuyền, tức hệ thống Ford, đã tạo nên một cuộc cách mạng công  nghiệp mang tính chất sản xuất lớn, cũng như tính chất tiến bộ trong lịch sử, có  sự gợi mở nhất định về mặt tư tưởng cho các nhà kinh doanh về sau. Chẳng những nó đã đặt được nền tảng cho sản xuất công nghiệp phát triển cao độ ngày  nay, mà còn là một trong những nhân tố quan trọng để thúc đẩy việc xây dựng công nghiệp được tăng nhanh hơn. Ngày nay, trong tâm khảm của người Mỹ, Henry Ford có một vinh dự rất lớn, được gọi là “ông vua xe hơi”, là “người anh  hùng”.

Trong khi Henry Ford và nhân viên quản lý của công ty đều tự hào trước sự thành công to lớn của loại xe Ford kiểu T, thì không ngờ hệ thống dây chuyền của công ty lại tạo ra một ảnh hưởng có tính chất phá hoại đối với sức lao động sản xuất. Do công nhân không quen với cách làm việc dây chuyền, nên lao động của họ trở nên căng thẳng. Cho dù lương ngày hai đồng của công ty xe hơi Ford, nếu so với các công ty xe hơi khác ở lân cận đã cao hơn 20%, nhưng vẫn có không ít công nhân bất mãn, tự ý xin nghỉ việc để tới những công ty đối thủ với  công ty Ford tìm việc làm. Năm 1913, số công nhân dự phòng để thay thế của công ty Forđ bị giảm đến 38%. Do vậy, ngày 7 tháng 1 năm 1917, tại một cuộc họp khẩn cấp do Henry triệu tập, ông đã tuyên bố. “Bắt đầu từ ngày mai, tiền lương ngày của công nhân công ty xe hơi Ford là 5 USD/ngày!”. Henry Ford lại viết thêm một trang sáng chói trong lịch sử chế độ tiền lương của nước Mỹ. Hành động trên đã mang tới cho công ty Ford nhiều sự bình phẩm tốt đẹp. Đó là một cuộc đại cách mạng trong lịch sử lao công của nước Mỹ. Sóng gió của cuộc cách mạng này sẽ mang tới một ảnh hưởng lớn đối với Châu Âu. Thậm chí cho tới ngày nay, quyết định trên của công ty Ford vẫn còn được xem là dấu hiệu nhân ái, quan tâm tới đời sống công nhân.
Henry Ford còn khẳng định một cách đầy đủ giá trị của lao động, đi đầu trong việc thực thi chế độ đãi ngộ với công nhân viên chức tại công ty xe hơi  Ford: ông đề xướng chính sách phúc lợi cho công nhân qua chế độ “ngày làm việc sáu tiếng”, “tuần làm việc năm ngày”. Hàng loạt chính sách đó chẳng những giúp ông thu gom được một đạo quân lao động tinh nhuệ, mà còn cải thiện rất lớn mối quan hệ giữa chủ và thợ. Henry hiểu một cách sâu sắc về tính  chất quan trọng của việc quan tâm đến đời sống của công nhân viên chức. Ông mong muốn rằng công ty Ford cần phải là nơi tiêu biểu cho mức sống của nhân dân trong toàn quốc, thậm chí, phải là mục tiêu mà các quốc gia khác cùng theo  đuổi.

Sau Đại chiến thế giới hai, kinh tế thế giới có nhiều biến động. Dư âm của cuộc khủng hoảng kinh tế thập niên 30 vẫn còn đeo đẳng không ít các doanh nhân, doanh nghiệp. Ford cũng không nằm ngoài vòng xoáy đó. Loại xe hơi  Ford kiểu T vừa rẻ vừa đẹp bước vào một hoàn cảnh khó khăn, Sau năm 1929,  loại xe nói trên chỉ chiếm 31,3% trên thị trường tiêu thụ xe hơi của Mỹ; đến năm 1940, con số này lại giảm xuống còn 18,9%, quả là một tình trạng bi thảm. Đứng trước đối thủ đang vươn lên là “công ty xe hơi thông dụng” (General Motor) Henry Ford ở tuổi 80, buộc phải triệu hồi đứa cháu trai đang giữ chức vụ trong ngành hải quân là Henry Ford đời thứ hai, giao trách nhiệm kế thừa sự  nghiệp của tổ tiên với tư cách là phó tổng tài của công ty xe hơi Ford.

Đứng trước một “công ty sắp chết” do mỗi tháng bị lỗ đến 90 triệu USD, Henry Ford đời thứ hai hiểu được một cách sâu sắc, điều trước tiên là cần phải tiến hành một sự cải cách triệt để. Đầu tiên là cần phải tìm cho được những người có kinh nghiệm quản lý toàn diện. Henry đã tìm được Hernest Bridges nguyên là phó tổng giám đốc của công ty General Motor. Do Henry đời thứ hai  có thành ý, đích thân đến gặp Bridges nhiều lần khiến cho ông cảm động và nhận lời mời. Kế đó, Henry đời thứ hai lại tiếp tục thu dụng mười người nguyên là viên chức quản lý có tương quan tới chế độ và quy tắc của ngành không quân, trong đó có Robert S.McNamara sau này giữ chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng của Mỹ, và Charles Bates Thornton là người sau này giữ chức giám đốc Ngân hàng thế giới, vv. Giữa năm 1946, số người của Bridges sau khi nhận nhiệm vụ, thì ngay trong năm đó công ty đã chuyển thành lời. Qua năm thứ hai, sau khi trừ  các khoản thuế, công ty thu nhập được 66.367.000 USD tiền lải ròng. Sau đó lợi  nhuận cứ mỗi năm càng cao. Đến 1950, lợi nhuận cao tới 2,58 tỷ USD. Mặc dù  rơi vào một lần khủng hoảng nữa, nhưng Ford vẫn tiếp tục vượt qua và khẳng  định ưu thế của mình trong làng xe hơi thế giới. Tháng 3 năm 1980, ở tuổi 63,  Ford đời thứ hai đã mạnh dạn quyết định đi theo trào lưu của lịch sử, tuyên bố từ chức chủ tịch đồng quản trị công ty xe hơi Ford, và trao đại quyền kinh doanh nghiệp vụ do ông đã giữ suốt 35 năm lại cho một chuyên gia quản lý ở ngoài gia  tộc Ford là Philip Kaldwel, để ông này đứng ra tổ chức ban cố vấn và áp dụng tập đoàn chuyên gia, một thể chế lãnh đạo mới nhất để lãnh đạo công ty xe hơi  Ford. Hành động này là một tuyên cáo “kết thúc 77 năm của vương triều Ford”, mở đầu cho viền trao đại quyền của xí nghiệp gia tộc cho người ngoài gia tộc  trong giới xí nghiệp của Mỹ. Điều này có thể nói gia tộc Ford một lần nữa lại có sự cống hiến mang tính chất khai sáng cho việc phát triển của các xí nghiệp ở  Mỹ. Năm 1981, công ty xe hơi Ford một lần nữa lại bước vào thời kỳ thịnh vượng. Năm 1982, công ty đã sản xuất và tiêu thụ được 4.328 nghìn chiếc xe, chỉ kém hơn Công ty General Motor. Đến năm 1994 thì số lượng tiêu thụ xe đã  vượt hẳn lên, doanh thu lên tới hơn 128 tỷ USD, đứng hàng thứ hai trong số các công ty công nghiệp lớn nhất ở Mỹ và trong thế giới tư bản.

Ngày nay, nơi chào đời của Henry Ford - Dearborn đã trở thành một thị trấn phồn vinh rực rõ. Một điều đặc biệt hơn là tai nơi đây đều tràn ngập màu  sắc Ford, và đã trở thành một “Thị trấn Ford” đúng với cái tên của nó. Henry Ford phong cách độc đáo của mình vĩnh viễn sẽ được người đời hoài niệm và  tán thưởng.

9 bài học đặc biệt về thành công từ Tony Robbins

Nếu bạn nghĩ rằng danh tiếng lẫy lừng, sự giàu có và sức ảnh hưởng mạnh mẽ của Tony Robbins xuất phát từ thực tế rằng ông có rất nhiều uy tín và truyền được nhiều cảm hứng cho người khác thì bạn đã sai hoặc chỉ đúng một phần. Chính bản thân tôi cũng tin vào những suy nghĩ trên về Robbins trong nhiều năm, chủ yếu là vì quá khứ của ông. Nhưng còn nhiều điều hơn thế về Robbins.

Trong thực tế, sự nổi tiếng không ngừng của Robbins là do những việc khác thường và khéo léo mà ông thực hiện hết năm này sang năm khác. Tin tốt là không cần phải có tiếng tăm lẫy lừng mới làm được điều đó, nên dù bạn là ai bạn cũng có thể thực hiện được như ông.Dưới đây là những cách làm rất thông minh, đúng chất Tony Robbins:


1. Luôn căn cứ theo các số liệu

Robbins chia sẻ với tờ Fortune rằng, mỗi khi nhận một khách hàng huấn luyện mới, cả hai sẽ cùng nhất trí với những số liệu sẽ quyết định liệu khách hàng đó có đang tiến bộ hay không. Thực vậy, rõ ràng là sự nghiệp huấn luyện bán hàng, diễn giả, doanh nhân đa ngành đều có những con số thể hiện nỗ lực của ông và cách chúng gắn với việc đạt được các mục tiêu của ông.


Bạn cũng nên như vậy. Khó có thể đạt được thành công nếu bạn không thể nêu cụ thể cách đánh giá nó.

2. Đem lại giá trị tối đa

Nếu bạn muốn đặt biệt thành công, hãy trao đi nhiều hơn nhận về, Robbins đã giải thích điều này trong một cuộc phỏng vấn với tổng biên tập trang tin điện tử Inc Eric Schurenberg. Và khi Schurenberg hỏi Robbins về các bí quyết điều khiển một phòng kín chật người, Robbins đã lịch sự nói rằng đây là một câu hỏi sai. Ông giải thích rằng bạn không thể làm được điều đó nếu đó là trọng tâm của bạn. Thay vào đó hãy tập trung vào việc đem lại cho mỗi khán giả điều họ cần và sau đó bạn sẽ điều khiển được sự chú ý của mọi người.

3. Tạo ra các hệ thống

Robbins là một người đam mê các hệ thống. Ông đã giúp CEO Marc Benioff xây dựng nên hệ thống V2MOM (vision (tầm nhìn), values (các giá trị), methods (phương pháp), obstacles (các rào cản), measures (các tiêu chuẩn đánh giá)) được sử dụng trong các nhóm bán hàng và giờ được các CEO ở khắp mọi nơi đón nhận.

Và đó chỉ là một ví dụ. Ông thường tạo ra các hệ thống để huấn luyện các khách àng công ty, đi kèm với những tiêu chuẩn đánh giá học đã cùng nghiên cứu để đánh giá thành công của việc huấn luyện. Dù đang giải quyết vấn đề gì, Robbins sẽ tìm ra một cách hướng tới các hệ thống để giải quyết nó.

4. Làm việc thực sự chăm chỉ

Không phải ai làm việc thực sự chăm chỉ cũng sẽ giành được thành công tầm cỡ như Robbins. Nhưng hãy xem, ông đã dành tới 200 ngày/năm để đi trên đường, huấn luyện, thực hiện phỏng vấn và tổ chức các hội thảo và các buổi diễn thuyết. Bạn không thể không tính đến lịch làm việc không nghỉ và sự sẵn lòng bày tỏ và đây mới chỉ phần nào giải thích cho thành công của ông. Làm việc chăm chỉ hơn những người xung quanh bạn sẽ cho bạn một lợi thế cạnh tranh thực sự.

5. Chăm sóc thật tốt cơ thể của bạn

Robbins cho rằng cảm nhận của bạn về tình trạng thể chất của mình sẽ chi phối quan điểm và tinh thần của bạn, thậm chí cả việc ra quyết định của bạn nữa. Ông đi lại lại trong buổi nói chuyện, ông có chế độ ăn uống tập luyện lành mạnh và rất cẩn thận đối với đồ ăn thức uống (không dùng chất caffeine, thịt hoặc đồ uống có cồn). Và ông nổi tiếng với việc lao mình vào nước lạnh và tiếp xúc trong thời gian ngắn với nhiệt độ băng giá để đẩy mạnh sức khỏe.

Bạn không phải làm đến mức đó. Nhưng nếu định làm theo bí quyết số 4, thì bạn nên có thêm lịch luyện tập, thiền chánh niệm, ăn uống lành mạnh và ngủ đủ giấc. Bạn không thể theo được lịch làm việc mệt mỏi nếu không có sức khỏe tốt.

6. Nghiên cứu cẩn thận mọi việc trước khi thực hiện

Theo Robbins, cách tốt nhất để có một bài diễn văn thực sự thành công là nghiên cứu càng nhiều càng tốt về khán giả của bạn và những điều họ cần từ bạn. Và khi ông đặt ra mục tiêu viết một cuốn sách về làm giàu, ông đã phỏng vấn 50 nhà đầu tư thông minh nhất thế giới để nghiên cứu. Ông không chỉ chia sẻ những suy nghĩ và ý tưởng của mình với thế giới, mặc dù có lẽ ông có thể bán được rất nhiều bản in sách. Ông đã ra ngoài thu thập những thông tin tốt nhất mà ông có thể có từ những người hiểu biết nhiều hơn ông về chủ đề của ông. Đó mới là đem lại giá trị tối đa.

7. Đọc thật nhiều

Robbins chia sẻ với tờ Fortune rằng ông đã học cách đọc nhanh và đã từng đặt mục tiêu đọc 1 cuốn sách/ngày. Tới hôm nay thì việc đam mê đọc sách đã chứng tỏ lợi ích. Khi được yêu cầu chia sẻ danh sách những cuốn sách mà ai cũng nên đọc, ông đã đưa ra một số cái tên như Ray Kurzweil’s The Singularity Is Near và các bài luận của  Ralph Waldo Emerson.

Đó là một phương trình đơn giản: Bạn càng đọc nhiều thì càng biết nhiều. Và tri thức là sức mạnh.

8. Dành càng nhiều thời gian càng tốt với những người đặc biệt thành công

Đây là một chiến lược khác mà Robbins giải thích trong buổi phỏng vấn với Schurenberg. Nếu bạn tìm dịp để gặp gỡ những người thành công những lĩnh vực mà bạn muốn học hỏi nhiều hơn hoặc đạt được vị trí mà mình muốn, thì nó sẽ đem lại lợi ích theo nhiều cách khác nhau. Bạn sẽ phải mài dũa hoặc củng cố những mối quan hệ quý giá. Bạn sẽ học được nhiều điều về lĩnh vực của họ và đặt mục tiêu cho bản thân đạt được thành công trong lĩnh vực đó. Và bạn sẽ buộc phải nâng cao cuộc chơi của bạn để họ không cảm thấy rằng họ đang lãng phí thời gian với bạn.

9. Hãy cứ khát khao

Robbins làm việc chăm chỉ như thế không phải vì ông buộc phải làm mà vì ông muốn thế. Ông cho biết ông khát khao luôn tìm kiếm những cách làm tốt hơn, nhanh hơn hau nói theo cách của ông là thanh tao hơn những việc ông đang làm. Và đó là một cách suy nghĩ quan trọng. Ông chia sẻ với tờ Fortune rằng: “Tôi có đặc quyền ở cạnh những người thành công nhất trên thế giới này, những người giỏi nhất trong lĩnh vực của họ. Mẫu số chung của họ là sự khát khao”.

Hãy tìm ra thứ khiến bạn đam mê đến nỗi bạn không bao giờ biết đến sự hài lòng. Và bạn sẽ có công thức quan trọng nhất đối với thành công thực sự.

Lượt truy cập

 
Copyright © 2014 Báo Gương Thành Công | Những Gương Mặt Nổi Trội , Tấm Gương Học Hỏi